Dưới đầu đề trên, tạp chí AseanAffairs số ra tháng 3 và 4/2010 cho biết: Chuyến đi thăm lần thứ hai của tổng thống Mỹ Barack Obama đến Đông Nam Á, đặc biệt tới Inđônêxia- nơi ông sống thời niên thiếu và Ôxtrâylia, đồng minh và là nước ủng hộ kiên cường những nỗ lực của Mỹ ở Ápganixtan, được coi là bước tiến quan trọng của Mỹ nhằm khôi phục ảnh hưởng trong khu vực này.
Trong khi nền kinh tế, chủ nghĩa khủng bố và thay đổi khí hậu, tất cả đều là những vấn đề nổi bật trong chuyến đi quốc tế đầu tiên của ông Obama trong năm nay, thì chuyến đi này được các quan chức chính quyền Mỹ nói rằng phản ánh nỗ lực của tổng thống nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia nhỏ hơn và đang nổi lên. Chuyến đi diễn ra vào lúc các mối quan hệ Trung - Mỹ ở mức thấp do tuyên bố gần đây của Mỹ về việc bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc gặp của Obama với Dalai Lama hồi tháng 2 và cái gọi là Trung Quốc thao túng đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo (có tin đang làm cho nền kinh tế Mỹ bị mất hơn 200 tỷ USD/năm và làm cho người Mỹ mất 1 triệu việc làm).
Ngoài các mối quan hệ khó khăn Trung-Mỹ, chuyến đi thăm ngắn của Obama tới khu vực này được cho là giúp Mỹ xác định lại mối quan hệ với ASEAN. Nhân dịp này, AseanAfairs xem xét lại các động thái gần đây của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng của họ-cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực và những nỗ lực do Mỹ tiến hành nhằm xác định lại mối quan hệ của Mỹ với ASEAN từ viễn cảnh của Mỹ.
QUYỀN LỰC CÂN BẰNG CỦA ASEAN
Dưới đây là các câu hỏi và trả lời phỏng vấn do AseanAfairs tiến hành với Ernest Z.Brown, cố vấn cao cáp và là giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, và là nhà đồng sáng lập Brooks BowerAsia LLC và cựu chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ-ASEAN:
Hỏi: Hiệp định tự do thương mại ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được coi là nằm trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố ảnh hưởng ngày càng tăng của họ và là đối trọng với sức mạnh của Nhật Bản và Mỹ. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?
Trả lời: Tôi không coi ACFTA được tập trung vào cân bằng sức mạnh của Mỹ và Nhật Bản trong ASEAN, mà là chính phủ Trung Quốc đang phấn đấu để đặt họ ở vị trí là một nhà lãnh đạo trong khu vực và nhằm đạt được lợi ích nhiều nhất về kinh tế. Trung Quốc đã làm được một công việc to lớn là giành cơ hội đáp ứng ASEAN khi họ cần một đối tác kinh tế và tài chính tiên phong, nhất là trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-2000. Tôi cho rằng Trung Quốc đang hành động để thúc đẩy những lợi ích riêng của họ và ít có động cơ, ít nhất trong ACFTA, tìm cách cân bằng với Mỹ và Nhật Bản.
Hỏi: Trong điều trần của ông trước Ủy ban kiểm điểm kinh tế & an ninh Mỹ-Trung đầu tháng 2/2010, ông ghi nhận rằng sự mở rộng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc có thể mang lại ít kịch bản thuận lợi hơn được chứng kiến. Xin ông nêu ra một hoặc hai ví dụ về những hậu quả có thể có này?
Trả lời: Hai ví dụ đó là các công ty Mỹ tự thấy mình đang cạnh tranh với các công ty được ủng hộ về chủ quyền, do nhà nước Trung Quốc quản lý, các công ty này không những được chính phủ Trung Quốc ủng hộ mà còn không bị ràng buộc bởi bất kỳ đạo luật nào như Đạo luật nước ngoài & những hành vi tham nhũng của Mỹ (FCPA) xác định các công dân và công ty Mỹ phải hoạt động nghiêm chinh như thế nào trước những hành động có liên quan đến tham nhũng. Trong trường hợp các quan chức bị mắc tội hối lộ, các công ty Mỹ có thể tự thấy mình ở thế rõ ràng không thuận lợi. Một kịch bản khác là thông qua sự can dự chiến lược và kinh tế ở Đông Nam Á, Trung Quốc có thể bắt đầu phát triển những lợi thế dựa vào những tiêu chuẩn do người Trung Quốc đề ra. Một ví dụ tốt nữa là nếu Trung Quốc cuối cùng ở vị trí áp đặt được, ví như các tiêu chuẩn thông tin viễn thông kiểu 3G của riêng họ cho các chính phủ châu Á. Điều này có thể làm cho Đông Nam Á ít thâm nhập được vói phần còn lại của thế giới và tạo cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Trung Quốc có được lợi thế thương mại rõ ràng trong cái sẽ là một thị trường có quy mô lớn- 1,3 triệu dân Trung Quốc cộng với 600 triệu dân ASEAN. Trên mặt trận an ninh, nếu Trung Quốc quyết định tìm cách áp đặt những tuyên bố của họ về chủ quyền đối với các tuyến đường biển và các khu vực khai thác dầu và khí đốt tiềm tàng ở Biển Đông (biển Nam Trung Hoa), thì điều này có thể gây ra một cuộc xung đột nghiêm trọng về lợi ích giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng như Mỹ và các nước khác.
Hỏi: Sự "nổi dậy hòa bình" của tác động Trung Quốc đối với những lợi ích chiến lược của Mỹ như thế nào, đặc biệt ở Đông Nam Á?
Trả lời: Kịch bản nổi dậy hòa bình là kịch bản mà chúng ta đều muốn thấy. Như tôi đã nói ở trên, chúng ta phải công nhận điều đó lúc này, sự thâm nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu và cộng đồng các nước là tương đối suôn sẻ, hòa bình và có tính xây dựng. Điều này rất tốt cho Trung Quốc và tốt cho ASEAN, những nước còn lại của châu Á, Mỹ và thế giới. Trung Quốc đã đóng góp nhiều về tài năng, các tư tưởng, văn hóa và chắc chắn là một thị trường lớn và nguồn đầu tư mới. Nhưng lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được tăng lên bởi sự nổi dậy hòa bình của Trung Quốc. Một phương pháp được xem xét tốt sẽ là tiếp tục tăng cường và mở rộng các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, đặc biệt giữa các nhà quân sự của chúng ta với các nhà hoạch định chính sách an ninh quốc gia. Điều này có thể làm được tốt nhất về song phương lẫn thông qua một kiến trúc an ninh khu vực công nhận trung tâm của ASE*AN. ASEAN là một nơi tốt cho Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Ôxtrâylia, Niu Dilân và các nước tiềm năng khác để gặp gỡ, chia sẻ thông tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Hỏi: Một Trung Quốc phát triển nhanh chóng vừa là cơ hội vừa là tai họa cho Đông Nam Á. Nhưng khi khi xét đến thương mại, Đông Nam Á vẫn phụ thuộc vào Mỹ nhiều hơn Trung Quốc. Tại sao các nhà lãnh đạo ASEAN lại bắt đầu lo ngại về sự thống trị của Trung Quốc?
Trả lời: Lịch sử của ASEAN là một lịch sử cân bằng cẩn trọng giữa các cường quốc lớn. Tôi cho rằng ASEAN cảm thấy rằng Trung Quốc đã có một sự vận hành tốt trong khu vực này trong thập kỷ qua. Sự nổi dậy nảy có ích cho ASEAN và lấp đầy sự chênh lệch một cách đúng lúc và có hiệu quả. Nhưng ASEAN không muốn bị thống trị bởi Trung Quốc và sẽ chống lại những nỗ lực này. Có những mối lo ngại rằng Trung Quốc đã bắt đầu đẩy mạnh những nỗ lực này, trong các trường hợp như khai thác dầu và khí đốt ngoài khơi Việt Nam hoặc ở Spratleys, hoặc thậm chí ở Mianma , nơi họ đang đòi thâm nhập rõ ràng vào các đường ống và các căn cứ ở ngoài khơi biển Andaman. Một ASEAN mạnh và đoàn kết là cần thiết để cân bằng những hành động như vậy.
Rõ ràng, đây không phải là chống Trung Quốc. Về mặt lịch sử, ASEAN đã tìm kiếm sự cân bằng khi một cường quốc lớn được thừa nhận mở rộng quá mức ảnh hưởng của họ. Điều này đã xảy ra trong trường hợp Nhật Bản được thừa nhận địa vị thống trị trong cuối những năm 1980 và nếu Mỹ đẩy tới quá xa, tôi cho rằng ASEAN sẽ chìa tay ra với Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ để tìm cách cân bằng những hành động như vậy.
Hỏi: Nếu ASEAN cần Mỹ để đẩy mạnh các lợi ích chiến lược của họ trong khu vực nhằm thỏa mãn mong muốn cân bằng của họ, thì Mỹ cần ASEAN như thế nào để đẩy mạnh các lợi ích của mình trong khu vực?
Trả lời: Đây là câu hỏi hay. Tôi cho rằng, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Ấn Độ- tất cả đều cần ASEAN đẩy mạnh các lợi ích của họ ở châu Á. ASEAN là quan trọng, bởi vì họ là một nhóm lớn và quan trọng của các nước, nhưng bởi vì họ là một nhóm, cho nên họ vốn không thể hoặc sẵn sàng đi tiên phong trong việc xác định và theo đuổi các lợi ích chủ quyền một cách tập thể, họ là một nơi dễ dàng để gặp và hoàn tất.
ASEAN là thỉết yếu trên bàn cờ chiến lược châu Á. Nếu họ quản lý tốt và các đối tác đối thoại của họ chơi thận trọng, ASEAN có thể làm cho họ trở thành động lực của sự an toàn châu Á và không có xung đột trong thế kỷ 21.
Lịch sử không quá tốt khi nhìn vào sự nổi lên của của các cường quốc lớn. Họ chủ trường tìm kiếm lãnh thổ và sự thống trị, nhưng có lẽ ASEAN có thể giúp Trung Quốc và Ấn Độ nhảy vào vũ đài toàn cầu mà không có chiến tranh hoặc các cuộc xung đột nguy hiểm. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các bên phải can dự tích cực và kiên trì với nhau và công nhận trung tâm của ASEAN trong kiến trúc khu vực mới này. Tôi hy vọng rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ hoàn toàn hiểu được tầm quan trọng của ASEAN và đầu tư vào đó.
Hỏi: Ông gần đây tuyên bố rằng chức chủ tịch ASEAN của Việt Nam năm tới có thể đẩy mạnh sự dính líu của Mỹ trong khu vực. Nhưng làm thế nào và tại sao lại Việt Nam?
Trả lời: Việt Nam và Mỹ chia sẽ lợi ích chung trong một ASEAN mạnh, thống nhất. Mặc dù hai nước đã đánh nhau trong cuộc chiến tranh như các địch thủ ít hơn 50 năm trước đây, ngày nay họ tự nhận thấy đang trải qua kinh nghiệm của ngã ba lợi ích và các quan hệ song phương đang tiến lên với một tốc độ ấn tượng. Các nước thành viên ASEAN nói chung muốn Mỹ vẫn can dự tích cực, nhưng chúng ta có thể hy vọng Việt Nam là một chủ tịch tập trung đặc biệt của ASEAN trong năm 2010. Tôi cho rằng tổng thống Obama sẽ tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ tới ở Hà Nội trong năm nay và cũng vào thời gian đó kỷ niệm 15 năm quan hệ Việt -Mỹ được thiết lập ngày 12/7/2010.
Hỏi: Liệu Việt Nam có phải là chìa khóa cho nỗ lực rõ ràng của Mỹ để đối trọng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á trên mặt trận an ninh hay không?
Trả lời: Một chiến lược lâu dài của Mỹ ở Đông Nam Á chưa hình thành. Tuy nhiên, các nhân tố chủ chốt của chiến lược đó đã có. Cam kết của Mỹ đối với ASEAN không và sẽ không nên được xác định bởi Trung Quốc hoặc một sự cần thiết được thừa nhận để cân bằng Trung Quốc. Việt Nam và các nước ASEAN muốn tìm kiếm một sự cân bằng giữa Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ.
Việt Nam được đặc biệt tập trung vào Trung Quốc lần này do Trung Quốc hiếu chiến mở rộng ra biển Đông, nhưng các nước ASEAN khác có lợi ích tương tự trong việc đảm bảo rằng khi Trung Quốc tiến lên, tác dộng của họ trong khu vực tiếp tục có lợi và không có cường quốc nào tìm cách thống trị các vấn đề chính trị, an ninh hoặc kinh tế ở Đông Nam Á.
Hỏi: Theo Phó trợ lý ngoại trưởng Scot Marciel, Mỹ lo ngại tình hình căng thẳng giữa Việt nam và Trung Quốc về lãnh thổ (ở Biển Đông). Như ông nói, đó là một trong những lý do Mỹ chia sẻ lợi ích ở một "Đông Nam Á mạnh". Xin ông nói rõ cụm từ "Đông Nam Á mạnh" là gì?
Trả lời: Một ASEAN mạnh là một ASEAN có tiến bộ hữu hiệu tiến tới các mục tiêu được vạch ra trong hiến chương ASEAN, cụ thể là hợp nhất trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội và văn hóa. ASEAN, giống như cây đa, sẽ tận hưởng được sức mạnh của nhiều chỗ đứng như một. Nếu nhóm khu vực này đạt được sự thống nhất và nhất thể hóa có hiệu quả, họ có thể tạo ra một nơi che chở, giống như bóng dâm và sự bảo vệ của một cây lớn, sẽ truyền sức mạnh cho nhân dân của họ được bảo vệ, hòa bình và thịnh vượng.
Hỏi: Cuộc gặp của tổng thống Barack Obama với các nhà lãnh đạo châu Á tháng 11 năm ngoái thiếu sự bền vững. Ông nhận định về lời bình luận đó thế nào?
Trả lời: Tôi lại nhận định nó theo cách khác. Tổng thống Obama đã có một bước quan trọng đầu tiên trong việc tham gia lễ khai mạc hội nghị cấp cao Mỹ-ASEAN. Ông tiếp cận diễn đàn đó một cách thích hợp và nghiêm chỉnh, nhấn mạnh cam kết của ông và gặp các đối tác. Ông hứa sẽ gặp họ lại vào năm 2010, và mang đến một chương trình thực sự hơn. Có thể là quá khi đến dự cuộc gặp gỡ đầu tiên với tư cách là tổng thống bằng một chương trình nghị sự quá lớn. Tôi cho rằng thời gian biểu đã định ra và đương nhiên những mong đợi được đưa ra, cho một chương trình nghị sự thực tế hơn từ cả Mỹ và ASEAN khi các nhà lãnh đạo này gặp nhau trong năm nay./.
(Trần Trường Thủy) Bài viết phân tích quá trình hình thành Tuyên bố Ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của các bên trong tham gia đàm phán và phân tích về nội dung kết quả đạt được.
******
Ngày 4 tháng 11 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC). Tuyên bố này chưa đạt được mục tiêu mà ASEAN mong đợi là một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc, và việc thực thi DOC đến nay vẫn chưa được triển khai về thực chất, nhưng đối với các nước ASEAN, đây được xem là một bước ngoặt trong vấn đề Biển Đông. Trước đây Trung Quốc chỉ đồng ý đàm phán song phương và luôn né tránh đàm phán đa phương. DOC thể hiện sự điều chỉnh trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông và là thành công của ASEAN trong việc lôi kéo Trung Quốc vào đàm phán vấn đề này. Bài viết này sẽ tập trung phân tích quá trình hình thành DOC giữa ASEAN và Trung Quốc, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của các bên trong tham gia đàm phán và phân tích về nội dung kết quả đạt được.
Quá trình hình thành DOC
Trước khi có DOC, trong khu vực tồn tại một số văn bản chính mang tính pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh hành vi của các bên trên Biển Đông, bao gồm hiệp ước Thân Thiện và Hợp Tác của ASEAN (TAC) năm 1976 và Hiệp ước khu vực Đông Nam Á phi hạt nhân năm 1995. Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á có những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh cách ứng xử của các bên trong Biển Đông, cụ thể là: giải quyết các bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và thúc đẩy hợp tác giữa các bên có liên quan.[1]
Lập trường chung đầu tiên của các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông được thể hiện tại Tuyên bố ASEAN về Biển Đông tại Manila năm 1992. Tuyên bố thể hiện sự lo ngại của ASEAN liên quan đến căng thẳng Việt Nam –Trung Quốc qua sự kiện Trung Quốc cấp phép cho công ty Creston của Mỹ thăm dò dầu khí tại khu vực Tư Chính thuộc thềm lục địa của Việt nam và sau khi Trung Quốc thông qua luật về lãnh hải ngày 25 tháng 2 năm 1992 tuyên bố chủ quyền tuyệt đối đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Tuyên bố kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, kiềm chế không làm căng thẳng tình hình, kêu gọi hợp tác và xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông trên cơ sở các nguyên tắc của TAC. Tuyên bố Manila năm 1992 cũng kêu gọi sự tham gia của các bên liên quan khác.[2] Việt nam, khi đó chưa phải là thành viên của ASEAN, ủng hộ Tuyên bố Manila. Trung Quốc nhắc lại lập trường về thảo luận song phương, không chấp nhận thảo luận đa phương vấn đề Biển Đông và cho rằng các vấn đề tranh chấp đảo Hoàng Sa và Trường Sa không liên quan đến ASEAN.
Dưới góc độ song phương, Trung Quốc và Philippines cũng đã thỏa thuận về Bộ quy tắc ứng xử gồm tám điểm trong Tuyên bố chung giữa hai nước về tham khảo về Biển Đông và các khu vực hợp tác khác vào tháng 8 năm 1995. Philippines và Việt Nam cũng thỏa thuận về Bộ ứng xử 9 điểm trong Tuyên bố chung của tham khảo song phương hàng năm lần thứ 4 vào tháng 10 năm 1995.[3]
Sự kiện Trung Quốc chiếm dải ngầm Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippin vào năm 1995 đánh dấu sự điều chỉnh trong chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Trước đó, Trung Quốc chỉ dùng vũ lực đối với Việt Nam vào các năm 1974 và 1988. Lúc bấy giờ Việt Nam chưa phải là thành viên của ASEAN. Sự kiện Vành Khăn thúc đẩy ASEAN tìm kiếm các sáng kiến nhằm giúp ngăn ngừa các tranh chấp tại Biển Đông không leo thang trở thành các vụ xung đột.
Ý tưởng xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) được thông qua tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 29 (Jakarta, 20-21/7/1996) với mục đích tạo nền tảng cho sự ổn định lâu dài trong khu vực và giúp cho việc tăng cường hiểu biết giữa các nước có tranh chấp.[4] Tuyên bố chung của hội nghị Bộ Trưởng ASEAN bày tỏ định quan ngại trước những diễn biến trên Biển Đông, nhấn mạnh việc các bên liên quan cần áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) làm cơ sở để xây dựng bộ quy tắc ứng xử quốc tế tại Biển Đông vì mục tiêu xây dựng môi trường an ninh và ổn định trong khu vực. Tuyên bố chỉ rõ “những diễn biến gần đây khẳng định sự cần thiết của một COC trên biển Đông, COC này sẽ là nền tảng cho sự ổn định trong khu vực và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia tranh chấp”.[5]
Tiếp đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (Hà Nội, 15-16/12/1998), các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, và cuộc họp SOM ASEAN tại Singapore tháng 3/1999 đã giao cho Việt Nam và Philippin đồng dự thảo văn kiện này[6]. Việt nam và Philippin không thống nhất được dự thảo COC chung của ASEAN, do yêu cầu của Việt nam về phạm vi địa lý áp dụng của COC bao gồm cả quần đảo Hoàng sa không được đáp ứng.
Philippin và Việt Nam trình bày các bản thảo riêng của mình đầu tiên tại cuộc gặp ASEAN SOM vào tháng 5 năm 1999. Dự thảo của Việt Nam bao gồm cả phạm vi áp dụng là Hoàng Sa. Malaysia phản đối bản thảo của Philippin vì cho rằng nó mang tính chất một hiệp định có tính cam kết pháp lý. Indonexia cũng đề nghị COC là một văn bản mang tính chính trị.
Bản dự thảo chung của ASEAN được trình bày tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN và cuộc họp của ARF vào tháng 7 năm 1999. Tuy nhiên, các ngoại trưởng ASEAN đã không thông qua bản dự thảo này. Malayxia yêu cầubản dự thảo này cần được đưa ra thảo luận tại cấp quan chức cấp cao. Ngoại trưởng Malaysia Syed Hamid Albar đã phê phán bản thảo của Philipin, cho rằng nó không phản ánh được tinh thần được nêu ra trước đó.[7]
Vào tháng 9 năm 1999, Philipin trình bản dự thảo thứ hai của mình lên ASEAN. Lần này, ASEAN không đạt được sự đồng thuận liên quan đến vị trí địa lý mà COC có tác dụng điều chỉnh. Philippin đề xuất khu vực áp dụng là Biển Đông nhưng Malayxia phản đối. Malayxia cho rằng chủ quyền của Malayxia trên một số vùng của Biển Đông không nằm trong diện tranh chấp, ngoài ra Biển Đông còn chồng lấn với lãnh hải của nước này, vùng gần Sabah và Sarawak. Với quy định COC chỉ áp dụng cho Trường Sa, Malaysia sẽ củng cố được vững chắc hơn vị trí chiếm đóng của mình trên một số đảo nằm trên khu vực thềm lục địa của mình, trong khi có thể tránh không bị lôi kéo vào các vấn đề mà Malaysia không có tranh chấp trực tiếp với Trung Quốc. Việt Nam ủng hộ việc sử dụng cụm từ “những vùng tranh chấp ở Biển Đông”, vì điều này cho phép COC có hiệu lực đối với cả quần đảo Hoàng Sa.[8]
Cuối cùng, ASEAN cũng đạt được sự nhất trí đưa ra dự thảo chung để đàm phán với Trung Quốc dựa trên bản thảo lần thứ 3 mà Philipin đề xuất trước thềm hội nghị không chính thức giữa các nhà lãnh đạo ASEAN. Những nội dung cơ bản của COC mà ASEAN đã đạt được nhất trí là: COC là một văn kiện chính trị, không có giá trị pháp lý ràng buộc cao; COC đưa ra các biện pháp xây dựng lòng tin, không ảnh hưởng đến lập trường về chủ quyền và quyền chủ quyền của các bên; COC chỉ nêu các nguyên tắc chung để xử lý các tranh chấp tại Biển Đông, cũng như về bảo đảm hòa bình, ổn định khu vực, như cam kết giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tự kiềm chế khi tiến hành các hoạt động, và một số các hoạt động khác trước khi tiến hành phải được tất cả các bên đồng ý.[9]
Trước đó, nhận thấy sức ép từ phía ASEAN ngày càng lớn, Trung Quốc đưa ra COC riêng của mình tại cuộc họp giữa hai thứ trưởng ngoại giao Philipin Lauro Baja và Vương Nghị tại Bắc Kinh.[10]
Bản thảo COC của Trung Quốc khác biệt ba điểm lớn so với bản thảo COC của ASEAN. Thứ nhất, trong khi bản thảo phía ASEAN có hiệu lực đối với Hoàng Sa, phía Trung Quốc cho rằng tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa là vần đề song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam. Thứ hai, bản thảo của Trung Quốc không có điều khoản về cấm chiếm thêm và xây dựng các công trình trên những đảo, đáchưa bị chiếm đóng như trong dự thảo ASEAN. Thứ ba, Trung Quốc đề nghị các bên tránh tiến hành các hoạt động do thám quân sự gần khu vực và hạn chế việc tuần tra. Ý đồ của Trung Quốc ở đây nhằm vào các hoạt động thu thập tin tức tình báo của Mỹ và các cuộc diễn tập quân sự giữa Mỹ và các đồng minh trên Biển Đông.
Trung Quốc từ chối việc thông qua bản thảo của ASEAN tại hội nghị quan chức cấp cao diễn ra ngày 25 tháng 11 năm 1999. Ngoài sự khác biệt rất lớn giữa hai bản thảo ở những điều khoản quan trọng. Lý do chính là Trung Quốc không chấp nhận một văn kiện do một mình ASEAN soạn thảo và không có sự tham gia của Trung Quốc.[11]
Cuối năm 1999 đánh dấu chuyển biến quan trọng trong việc đạt đến COC giữa Trung Quốc và ASEAN. Chuyển biến đó được ghi nhận thông qua việc Trung Quốc và ASEAN chuyển từ mỗi bên soạn thảo những COC riêng biệt sang hai bên tiến hành đàm phán tiến tới một COC chung. Khởi động cho tiến trình hai bên cùng tiến tới COC chung là cuộc hội đàm không chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc diễn ra tại Hua Hin, Thái Lan vào tháng 3 năm 2000. Trong cuộc hội đàm quan chức cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 6, ngày 25-26 tháng 4 năm 2000 tại Kuching (Malayxia), các bên đã đạt được thoả thuận về việc thành lập nhóm nghiên cứu liên hợp nhằm soạn thảo COC . Phiên họp đầu tiên của nhóm nghiên cứu này vào tháng 5 năm 2000 (tại Kuala Lumpur) cho thấy hai bất đồng chính: khu vực địa lý mà COC có hiệu lực và điều khoản về không chiếm đóng thêm. Philipin đe doạ sẽ chấm dứt tham gia nếu như Bắc Kinh không xem xét nguyên tắc “không chiếm đóng thêm các đảo” một cách nghiêm túc.[12]
Tuy nhiên, sau cuộc họp chuyên viên lần 3 về xây dựng COC tại Hà Nội tháng 10/2000, trong nội bộ ASEAN, đặc biệt là những nước có tranh chấp trực tiếp, vẫn còn tồn tại 4 vấn đề lớn là: phạm vi áp dụng của COC; vấn đề không chiếm đóng mới; tập trận chung và đối xử nhân đạo với ngư dân trên biển trong vùng tranh chấp. Trong đó tranh cãi nhất vẫn là vấn đề phạm vi áp dụng cảu COC. Việt Nam muốn phạm vi áp dụng là Biển Đông với hàm ý các quy định của COC được áp dụng cho cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu đề nghị này được chấp nhận sẽ thuận lợi cho Việt Nam vì Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ của ASEAN trong tranh chấp về chủ quyền đối với Hoàng Sa. Trong khi các nước ASEAN khác không phản đối, riêng Malaysia chỉ đồng ý áp dụng COC đối với khu vực Trường Sa. [13]
Vấn đề không chiếm đóng mới, tập trận chung vẫn là những vấn đề nhạy cảm, khó đạt được sự đồng thuận vì liên quan đến ý kiến của lực lượng quân sự trong mỗi nước. Vì vậy, ASEAN đã không đạt được nhất trí về các vấn đề trên.[14]
Nhằm tháo gỡ bế tắc, tại hội nghị ngoại trưởng lần thứ 35 tại Brunei vào tháng 7 năm 2002, Ngoại trưởng Malaysia Syed Hamid Albar đưa ra đề xuất là thay vì xây dựng COC, trước mắt có thể đưa ra một Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).[15]Đề xuất này nhận được sự tán thành từ các nước khác. Kết quả là ngày 4/11/2002 trong khuôn khổ của cuộc họp cấp cao ASEAN 8 tại Phnompenh (Căm-pu-chia) ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Nội dung cơ bản của DOC
Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của DOC được nêu ngay trong phần mở đầu của Tuyên bố là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và lâu dài cho tranh chấp ở Biển Đông, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác hiện có giữa các bên ký kết[16].
DOC gồm 3 nhóm nội dung chính: quy định về nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ giữa các nước và giải quyết tranh chấp; xây dựng lòng tin; và hoạt động hợp tác.
Điểm 1 của DOC khẳng định lại cam kết của các bên trong việc áp dụng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á năm 1976, 5 Nguyên tắc Chung sống Hòa bình, cũng như những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi khác của luật pháp quốc tế.
Tại Điểm 2 của DOC, các bên cam kết sẽ đưa ra các biện pháp cần thiết để củng cố và xây dựng lòng tin trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Có lẽ, trong mọi tranh chấp, để có thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình thì vấn đề đầu tiên mà các bên cần phải có là sự tin tưởng nhất định giữa các bên có liên quan. Các biện pháp xây dựng lòng tin có tác dụng giảm các nguy cơ xung đột trên biển, tránhhiểu lầm về các hoạt động trên biển của các nước khác.
Điểm 4 của DOC nêu đậm nghĩa vụ các bên giải quyết tranh chấp về lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua thương lượng và đàm phán giữa các quốc gia có chủ quyền trực tiếp trên cơ sở các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển 1982. Đây là điểm quan trọng nhất của DOC đối với ASEAN. ASEAN, đặc biệt là các nước có tranh chấp trực tiếp, lo ngại rằng Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục sử dụng vũ lực trong tranh chấp ở Biển Đông như đã từng làm trong quá khứ. Do đó, việc Trung Quốc chấp nhận một cách chính thức từ bỏ sử dụng vũ lực trong tranh chấp Biển Đông đã phần nào đáp ứng yêu cầu của ASEAN. Đối với Trung Quốc, quy định tại điểm 4 cũng ngăn ngừa khả năng ASEAN đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông ra cơ quan tài phán quốc tế hay lôi kéo sự dính líu của các nước bên ngoài khu vực với vai trò hòa giải hay trung gian.
Các biện pháp cụ thể để thúc đẩy và xây dựng lòng tin được cụ thể hóa tại điểm 5 trong DOC. Theo đó, nghĩa vụ chung của các quốc gia phải thực hiện là tự kiềm chế, không có các hành động gây phức tạp và gia tăng tranh chấp có thể ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Quy định rõ việc chiếm giữ đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và các cấu trúc chưa có người ở là loại hành vi các bên cần kiếm chế.
Bốn biện pháp cụ thể xây dựng lòng tin giữa các bên, bao gồm: a) Tiến hành đối thoại và trao đổi quan điểm, khi thích hợp, giữa các quan chức quốc phòng và quân sự của các bên; b) Bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với những người gặp nguy hiểm hoặc tai họa; c) Thông báo, trên cơ sở tự nguyện, cho các bên khác về các hoạt động tập trận chung hoặc phối hợp; d) Trao đổi các thông tin có liên quan trên cơ sở tự nguyện.
Điểm 7 của DOC nhấn mạnh các bên liên quan tiếp tục thương lượng và đối thoại về các vấn đề liên quan, bao gồm việc tuân thủ DOC nhằm mục đích thúc đẩy mối quan hệ láng giềng tốt và sự minh bạch, thiết lập sự hòa hợp, hiểu biết lẫn nhau và hợp tác. Quy định này cho phép các bên tiếp tục trao đổi các vấn đề Biển Đông ở các kênh khác nhau, song phương hoặc đa phương. Đồng thời đây cũng là một khung pháp lý để hình thành các cơ chế đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc riêng về vấn đề thực hiện, tuân thủ DOC.
Về hoạt động hợp tác,DOC đã cụ thể hóa yêu cầu hợp tác trong 5 lĩnh vực, bao gồm: a) Bảo vệ môi trường biển; b)Nghiên cứu khoa học biển; c) An toàn và an ninh hàng hải; d)Tìm kiếm cứu nạn trên biển; e) Chống tội phạm xuyên quốc gia; bao gồm và không giới hạn ở hoạt động buôn bán ma túy, cướp biển và cướp tàu có vũ trang và buôn lậu vũ khí.
Các lĩnh vực hợp tác này được coi là ít nhạy cảm và là các biện pháp hỗ trợ cho việc xây dựng lòng tin giữa các bên. Các lĩnh vực hợp tác này được quy định trong Công ước Luật biển 1982 và trên thực tế đã được triển khai song phương hoặc đa phương giữa các nước trong khu vực.
DOC cũng quy định nguyên tắc chung cho việc hợp tác là “Hình thức, phạm vi và vị trí của các hoạt động hợp tác song phương và đa phương cần được sự nhất trí của các bên liên quan trước khi được thực hiện” (điểm 6). Quy định này về bản chất là nguyên tắc đồng thuận trong giải quyết mọi vấn đề của ASEAN. Tuy nhiên, điều này khiến cho tất cả các hoạt động hợp tác đều cần có sự đồng thuận của tất cả các bên thành viên DOC, do đó làm chậm trễ quá trình ra quyết định.
Điểm 8, 9 và 10 của DOC khẳng định lại cam kết tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của DOC và cho rằng DOC chỉ là một văn kiện tạm thời để các bên hướng tới một mục tiêu cao hơn là COC, một văn kiện pháp lý mang tính ràng buộc nhiều hơn, có thể đưa ra những khuôn khổ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Cam kết này cũng gián tiếp thừa nhận rằng những quy định trong DOC này là chưa đủ để điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên trong tranh chấp.
Như vậy, DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp, mà chỉ tạo điều kiện, cơ hội cho các bên tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp. Trước mắt là tạo ra được một môi trường hợp tác, thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin và các hoạt động hợp tác, làm tiền đề cho một giải pháp lâu dài hơn.
Mặc dù DOC là văn kiện thể hiện tinh thần hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc, nhưng DOC đã gặp phải khá nhiều chỉ trích. Một tuyên bố chính trị giữa các quốc gia về bản chất là biểu hiện ý chí chính trị của giới lãnh đạo các quốc gia đó. Trong bối cảnh quan hệ chính trị giữa các quốc gia đó được triển khai thuận lợi, ý chí chính trị đó sẽ được tôn trọng và thực hiện. Nhưng trong bối cảnh quan hệ chính trị có trục trặc, hoặc một hay một số nước tham gia DOC có những hoạt động trên thực địa làm ảnh hưởng đến quyền lợi/yêu sách chủ quyền chính đáng của nước khác, ý chí chính trị thể hiện trong DOC rất dễ bị phá vỡ, vì không có cơ chế ràng buộc rõ ràng. Đó là thực tế chung của các tuyên bố chính trị và lại càng đúng trong trường hợp DOC vì tính chất phức tạp và nhạy cảm của vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.
Quy định lỏng lẻo của DOC còn tạo điều kiện cho các nước tiếp tục áp dụng các quy định của DOC để lên án các hành động đơn phương của bên kia, đồng thời viện dẫn quy định của DOC để biện minh cho hành động của mình.
Theo Mark Valencia, DOC có thể bị mất tác dụng và chỉ là một nỗ lực nửa vời để làm giảm bầu khí nóng về chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông. DOC chỉ là việc “tự lừa dối làm thỏa mãn khát vọng thành công về mặt chính trị của ASEAN, mà không đưa đến một sự chuyển biến sâu sắc nào về tình hình tranh chấp ở tại Biển Đông”. Học giả này còn cho rằng không có thỏa thuận mềm mỏng nào có thể ngăn được các nước yêu sách chủ quyền và gia tăng đồn trú chiến lược tại khu vực tranh chấp kéo dài này.[17]
Các nhân tố ảnh hưởng
Việc Trung Quốc chấp nhận là một bên ký kết DOC thể hiện một bước điều chỉnh trong cách tiếp cận về tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc. Trước đây, Trung Quốc chủ trương chỉ giải quyết song phương tranh chấp tại Biển Đông, vì muốn phát huy lợi thế nước lớn của mình trong quan hệ song phương bất đối xứng và lo ngại khả năng hình thành một mặt trận thống nhất trong ASEAN chống Trung Quốc. Sau sự kiện Vành Khăn năm 1995, trước phản ứng của ASEAN, Trung Quốc đồng ý thảo luận tập thể với ASEAN về vấn đề Biển Đông. Tại cuộc họp ARF tháng 7/1995 Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham tuyên bố Bắc Kinh sẵn sàng đàm phán giải quyết vấn đề tranh chấp ở Trường Sa thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận trong luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước luật biển 1982. Tuy vậy, đây chỉ có thể coi là sự thay đổi về chiến thuật nhằm bảo toàn vị thế của Trung Quốc trên thực địa sau một chiến dịch chiếm đóng mới thành công, hay còn gọi là chiến thuật “tiến hai bước, lùi một bước”.
Thông qua DOC Trung Quốc muốn đạt được ý đồ về chính trị, kinh tế thương mại, xóa bỏ lo ngại của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc. Khu vực Đông Nam Á là nơi mà chính sách ngoại giao thân thiện của Trung Quốc được thể hiện một cách rõ rệt nhất. Để đối trọng với thuyết về “mối đe doạ Trung Quốc”, Trung Quốc đã đưa ra học thuyết về sự “Trỗi dậy hoà bình” và “Phát triển hòa bình”, coi đó là phương châm phát triển quốc gia nhằm giải toả lo ngại của các nước láng giềng. Với việc ký kết DOC, Trung Quốc đã phần nào tạo được lòng tin với các nước ASEAN để từ đó làm cơ sở cho Trung Quốc phát triển các mối quan hệ trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại. Khi quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN trở lên nồng ấm, Trung Quốc dễ dàng thâm nhập thị trường đang được đánh giá là năng động của khối ASEAN. Để phục vụ cho phát triển kinh tế hiện tại, Trung Quốc cần mở rộng thị trường tiêu thụ và qua đó, dễ dàng tạo ảnh hưởng đến các nước ASEAN hơn.
Ngoài ra, đây còn là chuyển biến trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông từ song phương chuyển sang “song phương dưới ô đa phương của khu vực”.[18] Mặc dù Trung Quốc rất kiên quyết trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên những vùng lãnh thổ tranh chấp, nhưng dường như Trung Quốc sẵn sàng tham gia vào các tổ chức đa phương, tuân thủ các giá trị và luật chơi của chúng. Việc Trung Quốc tham gia vào DOC không nằm ngoài học thuyết “an ninh mới”. Tháng 8 năm 2002, trước khi ký kết DOC, Trung Quốc đã đưa ra học thuyết này tại hội nghị với ASEAN. “Quan niệm về an ninh mới vượt ra khỏi an ninh đơn phương, tìm kiếm an ninh chung thông qua việc hợp tác các bên cùng có lợi. Quan niệm này được đặt trên nền tảng vì lợi ích chung và phục vụ cho sự tiến bộ xã hội…Theo quan điểm của Trung Quốc, điểm cốt lõi của khái niệm an minh mới này bao gồm sự tin tưởng lẫn nhau, lợi ích chung, bình đẳng và hợp tác”.[19]
Ngoài ra, Trung Quốc tận dụng quá trình đàm phán COC/DOC để phân hóa ASEAN. Chẳng hạn như trong quá trình soạn thảo DOC, khi trong nội bộ ASEAN còn đang lúng túng về vấn đề phạm vi áp dụng, thì Trung Quốc luôn thúc giục ASEAN sớm giải quyết vấn đề và nói sẵn sàng chấp nhận phạm vi áp dụng là “Biển Đông” hoặc “Trường Sa”, điều này là tùy thuộc vào nội bộ ASEAN. Với động thái này, Trung Quốcđã khoét sâu vào nội bộ ASEAN. Thêm vào đó, Trung Quốc còn đưa ra thời gian biểu hoàn thành COC/DOC trước cuối năm 2000 (thời điểm đang thảo luận về COC) để thúc ép ASEAN với hàm ý chính sự thiếu thống nhất trong nội bộ ASEAN đã cản trở việc COC/DOC được ký kết. Nếu ASEAN giải quyết được vấn đề này, Trung Quốc sẵn sàng nhân nhượng các vấn đề khác như chiếm đóng mới, tập trận quân sự và đối xử nhân đạo với ngư dân các nước ở các khu vực tranh chấp.[20]
Bối cảnh an ninh khu vực sau sự kiện 11 tháng 9 cũng góp phần tạo đà cho sự ra đời của DOC vào năm 2002. Dreyer nhận định vị thế địa chính trị của Trung Quốc đã bị xáo động sau vụ khủng bố 11/9 liên quan đến việc Mỹ tuyên bố khu vực Đông Nam Á là mặt trận thứ hai trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.[21] Nhận thấy khu vực Đông Nam Á là nơi tập trung cộng đồng người Hồi giáo tương đối lớn, cũng như tính đến các mối liên hệ giữa Al Qaeda với các nhóm khủng bố trong khu vực như Moro Islamic, Abu Sayyaf, Kampulan Mujahidin, Jeemaah Islamiah, Mỹ coi Đông Nam Á là một trọng tâm trong cuộc chiến chống khủng bố. Ngay sau vụ khủng bố 11/9, Philippin tuyên bố ủng hộ và hỗ trợ Mỹ, cho phép tàu chiến Mỹ sử dụng căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic. Tháng 11 năm 2001, Tổng thống Philippin Arroyo thăm Mỹ kỷ niệm năm mươi năm Hiệp ước tương trợ Mỹ-Phi. Hai bên thống nhất nhận định là vụ khủng bố ở Mỹ và các hoạt động khủng bố của nhóm Abu Sayyaf (ASG) (nhóm đang bắt cóc công dân Mỹ và Phi tại miền nam Philippin) càng thúc đẩy hai nước tăng cường hợp tác quân sự.[22] Trước đó, Philippin tăng cường lôi kéo Mỹ, hai bên ký Hiệp định về thăm viếng quân sự (Visiting Forces Agreement) vào năm 1998. Tháng 2-3 năm 2000, Philipin và Mỹ bắt đầu tập trận chung ngoài khơi Palawan, trên biển Đông.
Quan hệ giữa Mỹ và Malaysia cũng được tăng cường sau vụ 11/9. Malaysia không những tăng cường chia sẻ thông tin tình báo cho Mỹ mà còn bảo vệ tàu Mỹ tại eo Malacca. Ngày 14 tháng 5 năm 2002, Mỹ và Malaysia ký Hiệp ước chống khủng bố tại Washington cam kết tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực, bao gồm quân sự, tình báo, kiểm soát biên giới, giao thông, thực thi phát luật, ngân hàng.[23] Tiếp đó, Thủ tướng Mahathir thăm Mỹ và hội đàm cấp cao với Tổng thống Bush vào 15-17 tháng 5 năm 2002.
Quan hệ giữa Mỹ và Việt nam cũng được tăng cường. Việt nam ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, hỗ trợ Mỹ trong kiểm tra các giao dịch tài chính nghi vấn, cho phép máy bay Mỹ bay qua bầu trời Việt Nam. Tháng 5 năm 2002, Mỹ mời Việt nam tham gia với tư cách quan sát viên chiến dịch tập trận Hổ mang vàng tại khu vực.
Cả ba nước thành viên ASEAN là Philippin, Malaysia và Việt Nam đều liên quan đến tranh chấp với Trung quốc tại Biển Đông. Các nước khác trong ASEAN như Thailand, Singapore hay kể cả nước hồi giáo lớn nhất thế giới là Indonesia cũng ủng hộ và hỗ trợ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Tháng 8 năm 2002, tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố giữa ASEAN và Mỹ được ký kết.[24]
Việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước đồng minh ở Đông Nam Á ảnh hưởng đến các tính toán chiến lược của Trung Quốc. Trung Quốc lo ngại việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở Đông Nam Á sẽ kéo theo sự dính líu của Mỹ vào vấn đề Biển Đông và làm tăng khả năng đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề. Đại sứ Trung Quốc tại Philippin Guan Dangming khuyến cáo Manila về nhân tố Mỹ và tuyên bố bên thứ ba không nên can thiệp vào vấn đề.[25] Đại biểu Trung Quốc liên tục khuyến cáo công khai ASEAN về sự dính líu của Mỹ vào các vấn đề mà Trung Quốc lo ngại. Tại cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc tại Cha-am, Thailand tháng 3 năm 2000, trưởng SOM Trung Quốc Yangi Yi tuyên bố phản đối quan hệ đồng minh quân sự của ASEAN và Mỹ, cho là khu vực đang bàn bạc các biện pháp xây dựng lòng tin và không cần sự các thiệp của các lực lượng bên ngoài. [26]. Leszey Buszynski nhận định nguyên nhân chính của việc Trung Quốc quyết định ký kết là DOC do nhận thấy giá trị của các quy tắc ứng xử trong việc ngăn các nước ASEAN tăng cường mối quan hệ chính trị, quân sự với Mỹ, tránh sự can thiệp của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông cũng như tránh việc Mỹ có lợi thế trong vấn đề Đài Loan.[27]
Thông qua DOC, với tư cách là một bên trong tranh chấp và bên kia là tất cả các nước ASEAN, Trung Quốc cũng đạt được ý đồ của mình là gạt được sự dính líu từ bên ngoài vì cho rằng đây là vấn đề của khu vực và phải được giải quyết trong khu vực. Điều này được thể hiện rất rõ tại cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc về triển khai DOC ngày 7/12/2004 tại Ma-lay-xia. Trung Quốc kiên quyết không chấp nhận ghi vào Quy chế làm việc của Nhóm công tác chung về việc mời các chuyên gia và những người có uy tín từ các nước bên ngoài khu vực.
Ngoài ra, DOC là một văn kiện chính trị với mức độ cam kết và ràng buộc không cao, do vậy, quy định của DOC không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc từ trước tới nay. Việc chấp nhận là một bên trong DOC đã phần nào giúp nâng cao vị thế và vai trò của Trung Quốc với các nước bên ngoài về thiện chí giải quyết hoà bình các tranh chấp của Trung Quốc. Đồng thời, việc ký kết DOC cũng không gây ra những tác động bất lợi từ chính trong nội bộ của Trung Quốc vốn từ trước tới nay luôn coi Biển Đông là một vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Quan trọng hơn, việc ký kết DOC trong thời kỳ này phù hợp với chính sách và chiến lược chung của Trung Quốc về Biển Đông, là một bước đi trong chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Trung Quốc đang chịu áp lực của nhu cầu khai thác nguồn lợi biển, nhất là năng lượng để phục vụ nền kinh tế đang phát triển rất nhanh của Trung Quốc. Bắt đầu từ năm 1996, Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu khí và việc đảm bảo ổn định các nguồn cung và đường vận chuyển là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc. Với một môi trường hợp tác và tương đối ổn định trong Biển Đông, Trung Quốc sẽ có điều kiện thúc đẩy việc hợp tác trong các lĩnh vực mà Trung Quốc có lợi ích theo mô hình “gác tranh chấp, cùng khai thác” nhưng dưới danh nghĩa thực thi DOC. Thỏa thuận hai bên Trung Quốc-Philippin về thăm dò địa chấn chung khu vực giữ Biển Đông vào năm 2004 là minh chứng cho nhận định này.
Về phần ASEAN, các quốc gia thành viên coi sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc như là một cơ hội. Ngày 5 tháng 11 năm 2002, tại Phnom Penh, hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN được ký kết, tiền đề cho việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc vào năm 2010, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc. [28] Lợi ích do thặng dư thương mại đem lại đã dọn đường cho việc ra đời DOC. Amitav cho rằng “nhìn từ góc độ chính trị, hiệp định về tự do hoá thương mại giữa ASEAN-Trung Quốc cho thấy mối thù hận do lịch sử để lại và sự cạnh tranh về chính trị không còn là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quan hệ ASEAN-Trung Quốc”.[29]
Các nước ASEAN có tranh chấp trực tiếp tham gia COC/DOC nhằm duy trì ổn định, nguyên trạng và thông qua các biện pháp hợp tác, xây dựng lòng tin, giúp tránh được những bất đồng, xung đột, tạo điều kiện cho việc hợp tác trong Biển Đông. Mục đích cuối cùng là củng cố cơ sở pháp lý nhằm khẳng định các quyền của mình ở Biển Đông, bao gồm quyền sử dụng và khai thác lợi ích từ Biển Đông. Các nước ASEAN khác, do không có tranh chấp trực tiếp, muốn thông qua DOC để nâng cao vị trí vai trò của mình, sử dụng DOC để hỗ trợ cho các mối quan hệ khác với các nước có tranh chấp trực tiếp và được hưởng lợi từ các hoạt động hợp tác trong Biển Đông. Chính sự khác biệt này có thể làm suy yếu sự thống nhất quan điểm của ASEAN.
Ralf Emmers thuộc Viện nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore bình luận về DOC: “Các thành viên ASEAN có quan hệ khác nhau với Trung Quốc và có quan điểm đối ngược về mối đe doạ tiềm tàng của mình...Sự thiếu đoàn kết giữa các nước ASEAN cũng bắt nguồn từ thực tế rằng vấn đề chủ quyền với quần đảo Trường Sa chưa phải là một nguy cơ trực tiếp đối với an ninh quốc gia của các thành viên ASEAN riêng lẻ...trừ Việt Nam và Philippines.[30]
Khác biệt về lợi ích và ưu tiên đã khiến khối này chấp nhận DOC, vì đó chính là lối ra duy nhất, một mặt giữ được thể diện và hình ảnh đoàn kết của ASEAN, mặt khác cũng phản ánh thực tế vẫn còn tồn tại những bất đồng về nội dung trong ASEAN. Trong khi chưa thể đưa ra những giải pháp cho bất đồng, ASEAN chọn phương án trung gian với một DOC mang tính tuyên bố chính trị và các nội dung được giảm nhẹ tính cam kết và không xác định rõ phạm vi áp dụng.
Một số kết luận
Một bộ quy tắc ứng xử mang tính cam kết và ràng buộc cao là mục tiêu ban đầu của ASEAN. Nhưng những khác biệt về lợi ích và ưu tiên trong chính sách đối ngoại, lợi ích trong quan hệ với Trung Quốc đã khiến ASEAN chấp nhận một văn bản mang tính tuyên bố chính trị. DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp, mà chỉ tạo môi trường thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin và các hoạt động hợp tác, làm tiền đề cho một giải pháp lâu dài hơn.
Tuy nhiên, DOC cũng cho thấy Trung Quốc phần nào điều chỉnh cách tiếp cận về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù vẫn rất kiên quyết trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên những vùng lãnh thổ tranh chấp và duy trì chính sách giải quyết vấn đề Biển Đông trên cơ sở song phương, nhưng Trung Quốc đã cho thấy sự sẵn sàng tham gia vào các cơ chế đa phương nhằm gia tăng vai trò, tăng cường lợi ích, phân hóa tập hợp lực lượng chống Trung Quốc và chấp nhận các quy tắc không mang tính ràng buộc pháp lý nhằm phục vụ lợi ích toàn cục.
Nhìn rộng ra, sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông theo hướng “mềm hơn” có thể là kết quả của một số yếu tố, trong đó có i) tính đoàn kết, đồng thuận của ASEAN, ii) sự gia tăng dính líu của các lực lượng bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, vào vấn đề Biển Đông, iii) nhu cầu của Trung Quốc quan tâm đến hình ảnh quốc gia, tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực./.
TS. Trần Trường Thủy, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao
[1] Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, Indonesia, 24 February 1976, www.aseansec.org/1217.htm
[2] ASEAN Declaration On The South China Sea, Manila, Philippines, 22 July 1992 www.aseansec.org/1196.htm
[3] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, Vol. 32, Issues 1-2 (2001) trang 105 -130
[4] Trước đó, ý tưởng về COC đã xuất hiện trong Tuyên bố ASEAN 1992 và được nêu trong các Hội nghị về kiềm chế xung đột tiềm tàng trong Biển Đông 1991-2000.
[5] Tuyên bố chung hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 29 tại Jakarta, ngày 20-21 /7/1996, truy cập tại www.aseansec.org/1824.htm
[6] Mục 7.16, Kế hoạch hành động Hà Nội, truy cập tại www.vpa.org.vn/ENGLISH/activities/ac_asean.htm
[7] “Peaceful settlement of disputes urged”, The New Straits Times, 25/7/1999
[8] “ Positive ASEAN response to proposed code of conduct in the South China Sea noted”, Business World (Philippines), 14/9/1999
[9] ASEAN’s Draft Code of Conduct in the South China Sea, 25/11/1999
[10] China’s Draft Code of Conduct in the South China Sea, 10/1999
[11] Christopher Chung, “The Spratly Islands Dispute: Decision Units and Domestic Politics”,Luận án tiến sĩ năm 2004, trang 328
[12] “ASEAN, China move toward a code of conduct in South China Sea”, Asian Political News, 14/7/2000
[15] “ Malaysia seeks “code of conduct” for Spratlys, Reuters, 24/7/2002
[16] Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea 2002. http://www.aseansec.org/13163.htm
[17]Trích theo Ronald A. Rodriguez,Conduct Unbecoming in the South China Sea?PacNet No 23°, 21/5/2004.
[18] Đánh giá của GS Zou Keyuan, Đại học Central Lancashire, Anh trong trao đổi với tác giả,Zou Keyuan lý luận rằng, khi ký DOC, TQ là một bên, bên kia là cả 10 nước ASEAN cùng ký, do đó có thể xem DOC là thỏa thuận “song phương” dưới chung cái ô “khu vực”.
[19]China Offers New Security Concept at ASEAN Meetings,People's Daily August 01, 2002, bản copy truy cập tại http://au.china-embassy.org/eng/jmhz/t46228.htm
[20] “China Calls for Early Finalization of South China Sea Code of Conduct,” www.chinahouston.org/news/20001017202639.html
[22] “U.S.-Malaysia Defense Cooperation: A Solid Success Story,” The Heritage Lectures,
No. 742, Heritage Foundation Reports, May 1, 2002.
[23] “Malaysia, U.S. Sign Anti-terrorism Declaration,” The Straits Times (Singapore), May 14, 2002, trang 6.
[24] ASEAN-United States of America Joint Declaration for Cooperation to Combat International Terrorism, Bandar Seri Begawan, 1 August 2002. http://www.aseansec.org/7424.htm
[26] Sa-Nguan Khumrungroj, “China Warns ASEAN against Boosting Ties”, The Nation, 17/3/2000.
[27] Leszek Buszynski, “ASEAN, the Declaration on Conduct, and the South China Sea” , Contemporary South East Asia, Dec 2003, Volume 25, trang 343
[28] Framework Agreement on Comprehensive Economic Co-Operation Between ASEAN and the People's Republic of China. http://www.aseansec.org/13196.htm
[29] Amitav Acharya, Seeking Security in the Dragon’s Shadow: China and Southeast Asia in the Emerging Asian Order, IDSS Working papers, tháng 3 năm2003.
Bài viết của GS. Gerardo M. C. Valero, Giám đốc Khoa sau đại học, Trường Luật, Đại học Connecticut, Mỹ, nhận định các quy định của luật pháp quốc tế truyền thống về thụ đắc lãnh thổ không giúp cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp Trường Sa và tạo lập khuôn khổ cho việc hợp tác tại đây. Ngược lại, các quy định này thúc đẩy các quốc gia liên quan đến tranh chấp tăng cường các bước đi đơn phương về pháp lý, qua đó đẩy tình hình thêm căng thẳng về chính trị và quân sự.
------------------------------------
Giới thiệu
Trước đây, trong quá khứ chưa bao giờ mối quan tâm về vấn đề chồng lấn lãnh thổ và quyền tài phán ở vùng Biển Đông lại trở nên căng thẳng như trong ba thập kỷ vừa qua của thế kỷ hai mươi này. Do đó từ lâu được công nhận là một vùng đánh cá giàu có và là con đường hàng hải quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông lại trở thành trọng tâm chú ý của quốc tế vào những năm 1970, khi các công trình nghiên cứu địa chất và khảo sát địa vật lý nêu những giả thuyết chắc chắn về sự tồn tại của các mỏ dầu và khí tự nhiên lớn ở đáy biển. Kể từ đó, các nước ở vùng Biển Đông ngày càng vướng thêm vào rắc rối của những tuyên bố đơn phương mâu thuẫn với nhau, ở những mức độ cạnh tranh khác nhau về việc kiểm soát vùng nước của khu vực và việc sử dụng các nguồn tài nguyên sinh vật và không sinh vật.
Những yêu sách mâu thuẫn này trước tiên do những mối quan tâm kinh tế chi phối bao gồm cả sự phát triển của các nguồn hydrocarbon tiềm năng[1] Tuy nhiên, những sự kiện sau năm 1990, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô cũ và việc Hoa Kỳ rút khỏi những căn cứ quân sự và hải quân ở Philippin trên bờ phía Đông của Biển Đông, đã khiến cho những nhà hoạch định chính sách của các quốc gia yêu sách phải xem xét lại tác động liên quan đến an ninh quốc gia và sự ổn định chính trị đối với các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và mở rộng quyền tài phán trên biển ở khu vực Biển Đông.
Các biến chuyển trên đây đã khiến cho những chính phủ có quan tâm phải tổ chức một cách có hệ thống và liên tục củng cố địa vị pháp lý của họ hỗ trợ cho tính chất hợp lệ của những yêu sách này. Trong nỗ lực đưa ra những lý lẽ để đạt được sự công nhận của quốc tế về những yêu sách tài phán và lãnh thổ tương ứng của họ, các quốc gia yêu sách đã dựa vào rất nhiều công thức pháp lý rút ra từ những bằng chứng về thực tiễn của các quốc gia hiện nay, sự phân xử quốc tế và tài phán trọng tài cũng như từ những khái niệm được phát triển trong quá trình Hội nghị luật biển do Liên hợp quốc tổ chức. Cũng vì vậy, hành động của các quốc gia trong việc thực thi những luận điểm pháp lý mà họ tuyên bố đã tạo ra một bức tranh chi tiết để quan sát xem một phạm vi rộng lớn những vấn đề bàn cãi liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên đại dương được giải quyết theo tập quán như thế nào. Đây là những vấn đề trong những khúc mắc liên quan đến việc vạch đường cơ sở quần đảo, xác định giới hạn thực hiện quyền đi qua eo biển, đến việc phân định biên giới giữa hai hay nhiều quốc gia có yêu sách chồng lấn về quyền tài phán đối với không gian biển và thẩm quyền đối với các nguồn tài nguyên biển[2].
Trong số các vấn đề khu vực được quan tâm có lẽ vấn đề phân định ranh giới biển là vấn đề gay cấn nhất, bởi vì hiện nay vấn đề này đang được xem xét dưới góc độ xác định giới hạn những yêu sách đơn phương chồng lấn về chủ quyền đối với một loạt các đảo, hòn, cồn và đá nằm rải rác suốt chiều rộng của Biển Đông.
Singapore và Malaysia đang tranh chấp về quyền sở hữu đối với đảo Pisang và Pulau Batu Putih (“Đá Trắng”) ở vĩ tuyến 1019,8’ Bắc và kinh tuyến 104024,4’ Đông làm nền đỡ cho ngọn hải đăng Horsburgh ở vùng nước đông đúc và có tầm quan trọng chiến lược của các eo biển Malacca và Singapore. Indonesia và Việt Nam thì đang tranh cãi về quyền sở hữu đối với đảo Natuna nằm ngoài khơi bờ biển phía Tây Bắc đảo Kalimantan của Indonesia ở khoảng 40kể từ đường xích đạo[3]. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, mỗi bên đang ra sức chống lại yêu sách của các bên còn lại về chủ quyền đối với nhóm đảo Hoàng Sa nằm giữa vĩ tuyến 160 và 170, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 150 hải lý về phía Đông Nam. Đài Loan cũng đang tranh chấp với Trung Quốc về yêu sách với đảo Pratas, nằm cách Đài Loan 240 hải lý về phía Tây Nam từ vĩ tuyến 200 30” đến 210 31” B. và từ kinh tuyến 1160 đến 1170 Đ. và bãi ngầm Trung Sa, nằm cách quần đảo Hoàng Sa 100 km về phía Đông từ vĩ tuyến 150 20’ đến 160 20 B. và từ kinh tuyến 1130 40” đến 1150 Đ. Cuối cùng, 5 bên - Trung Quốc , Malaysia, Philippin, Đài Loan và Việt Nam - hiện đang yêu sách ít nhất là một số đảo thuộc một quần đảo được đề cập đến với cái tên là Spratlys[4] (Trường Sa) là một phần lãnh thổ của họ.
Việc thực sự chiếm hữu lãnh thổ yêu sách được coi là có tầm quan trọng đặc biệt và hiện nay, mỗi bên yêu sách đều duy trì sự hiển diện quân sự của họ trên ít nhất là một đảo thuộc quần đảo này[5]. Việc quân sự hoá khu vực này đã được đẩy mạnh kể từ đầu những năm 1970, khi Philippin cử hải quân lên chiếm giữ đảo Thị Tứ[6]. Nước Cộng hoà miền Nam Việt Nam sau này, với tư cách là người kế thừa chính phủ thực dân Pháp đã bắt đầu thiết lập sự có mặt về quân sự của họ trong khu vực vào năm 1974, khi lực lượng của họ đã chiếm giữ năm đảo trong quần đảo Trường Sa, sau khi bị mất quyền chiếm hữu nhóm đảo Lưỡi Liềm nằm ở phía tây của quần đảo Hoàng Sa kéo về phía Bắc của quần đảo Trường Sa[7] về tay Trung Quốc. Trung Quốc đã thiết lập sự có mặt của mình ở quần đảo Trường Sa bằng cách chiếm tám đảo trước đó Việt Nam đang chiếm giữ bằng một cuộc đụng độ hải quân kéo dài hai ngày vào tháng 3/1988, đó là cuộc đụng độ hải quân trầm trọng nhất ở khu vực Trường Sa kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới II[8].
Một phần lớn tài liệu có được về tình hình quần đảo Trường Sa xem xét tới căn cứ lịch sử của những yêu sách đối kháng về chủ quyền lãnh thổ mà các quốc gia có lợi ích này khẳng định và sau đó, phân tích tính vững vàng của những luận điểm pháp lý được đề xuất để bảo vệ quan điểm của họ. Tuy nhiên, có một cuộc bàn cãi thứ hai do những yêu sách này tạo ra chưa được đưa ra phân tích ở một mức độ tương xứng.
Những đảo tạo thành quần đảo Trường Sa, về bản chất, một mặt quá nhỏ và quá cằn cỗi để có thể duy trì một cuộc sống ổn định và lâu dài và mặt khác, không có dấu hiệu phân biệt đáng kể nào về nguồn tài nguyên thiên nhiên trên bờ[9].Tuy nhiên, chúng lại được coi là có tầm quan trọng chiến lược về quyền lợi kinh tế và chính trị của các quốc gia ven Biển Đông, trước hết theo nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của tập quán và luật biển quốc tế, các đảo này có thể được dùng làm điểm cơ sở để từ đó các quốc gia có thể mở rộng yêu sách của họ về thẩm quyền tài phán, đặc biệt đối với vùng nước và các nguồn tài nguyên của Biển Đông. Tầm quan trọng của hướng thứ hai này có thể được đánh giá một cách cụ thể hơn thông qua việc cân nhắc, nếu mỗi bên yêu sách đối với quần đảo Trường Sa đều tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa tính từ đường cơ sở được vạch từ những điểm xác định bởi các đảo mà họ hiện đang chiếm giữ, thì toàn bộ các vùng nước của Biển Đông và vùng đáy biển ở phía dưới sẽ nằm dưới rất nhiều các chế độ của quyền tài phán quốc gia khác nhau[10] và chuyển vùng vốn trước đó là biển cả và đáy đại dương quốc tế thành một vùng biển “nửa kín”[11].
Cho đến nay các quốc gia ven biển có lợi ích đã thực hiện những bước tiến cụ thể nhằm mở rộng thẩm quyền trên biển của họ. Ngay từ đầu năm 1977, Việt Nam đã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của họ có các vùng biển riêng của chúng[12]. Sau đó đến Philippin vào năm 1978 tuyên bố chính thức sáp nhập lãnh thổ đối với vùng phía Tây quần đảo Trường Sa và đang xem xét pháp chế từ năm 1987 để mở rộng đường cơ sở quốc gia quần đảo năm 1968 của mình, nhằm gộp phần lãnh thổ yêu sách vào thành một phần của quốc gia quần đảo Philippin[13]. Cùng lúc với việc tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa, Philippin cũng tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để xác định chiều rộng lãnh hải của họ[14]. Mặt khác, Malaysia khẳng định sự chiếm giữ hiện tại của họ trên ba đảo của quần đảo Trường Sa bằng một tuyên bố mới lạ rằng, chúng tạo thành một phần của rìa lục địa của Malaysia[15]. Ngày 25/2/1992, Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã phê chuẩn một đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ, yêu sách chủ quyền đối với cột nước, đáy biển và khoảng không gian trong giới hạn 12 hải lý kể từ bờ biển. Đạo luật này được tuyên bố là áp dụng đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa cũng như các nhóm đảo khác là đối tượng tranh chấp với các quốc gia khác[16]. Đáp lại hành động này các nguồn tin cho biết, Đài Loan đã chuẩn bị một đạo luật về các vùng nước lãnh thổ của riêng mình nhằm tái khẳng định các yêu sách của họ không chỉ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, mà còn cả với đảo Đông Sa và Trung Sa nữa[17].
Với nỗ lực nhằm mở ra một cuộc thảo luận để đạt được một giải pháp cho tất cả những yêu sách cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa, các quan chức cao cấp và viện sĩ hàn lâm từ năm quốc gia yêu sách cùng với đại diện từ các nước Brunei, Indonesia, Lào, Singapore và Thái Lan đã nhóm họp ở Băng Đung, Indonesia tháng 7/1991 để tham gia một hội nghị, thảo luận tìm giải pháp thay thế nhằm kiểm soát những tranh chấp tiềm tàng ở khu vực Biển Đông. Hội nghị Băng Đung kết thúc với việc các bên tham gia đưa ra một thông cáo chung, tuyên bố cam kết của họ về việc sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết các yêu sách tài phán và lãnh thổ chồng lấn ở Biển Đông [18]. Họ cũng thoả thuận rằng, sẽ tiếp tục những nỗ lực trong việc hợp tác trong những lĩnh vực như quy định về vận tải biển, thông tin liên lạc, khảo sát khoa học, trấn áp cướp biển và vận chuyển ma tuý trong khu vực[19].
Hội nghị Băng Đung được coi là một bước đột phá, xoá đi mối cản trở lâu dài giữa các quốc gia tranh chấp về quyền kiểm soát trên Biển Đông, nguyên nhân chính là vì Trung Quốc không những đã tham gia hội nghị mà còn tỏ rõ thiện chí cân nhắc về giải pháp hợp tác nhằm giải quyết tranh chấp. Điều này cho thấy sự ôn hoà hơn trong chính sách đã có từ rất lâu của Trung Quốc, vì trong quá khứ, nước này kiên quyết không tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào có dính líu đến vấn đề chủ quyền đối với những lãnh thổ đất liền tranh chấp, đặc biệt nếu có Đài Loan tham dự những cuộc thảo luận ấy với tư cách là chủ thể riêng biệt[20]. Bất chấp những vấn đề kể trên phải thừa nhận rằng, tiến triển mà Hội nghị Băng Đung có được về việc giải quyết các yêu sách chồng lấn về biển và lãnh thổ đối với Biển Đông chỉ ở mức tối thiểu. Bản thân hội nghị này ở cấp độ không chính thức, cho nên các thành viên tham gia không thể buộc quốc gia của họ phải đi theo một giải pháp toàn diện và ổn định hơn đối với tranh chấp này[21]. Và dù các đại biểu của Trung Quốc tham gia hội nghị đồng ý, việc xúc tiến hợp tác trong khu vực về các vấn đề gìn giữ môi trường và phát triển nguồn tài nguyên là có thể đạt được, song họ vẫn duy trì khẳng định sắt đá của mình về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa, cũng như các nhóm đảo khác ở Biển Đông là không thể đàm phán[22].
Có thể thấy rõ, các tuyên bố của các quốc gia tại Hội nghị Băng Đung chẳng có ý nghĩa gì, các bên trong khu vực có liên quan đến tranh chấp quần đảo Trường Sa vẫn coi việc thực hiện những hành vi quốc gia đơn phương là biện pháp hiệu quả và vững chắc hơn để giải quyết những vẫn đề còn chưa rõ ràng xung quanh hiệu lực các yêu sách của họ về chủ quyền đối với quần đảo. Đây là lý do gây mối quan tâm sống còn, vì quan điểm mang tính phổ biến này không báo trước điềm lành cho việc đạt được sự ổn định về kinh tế và chính trị trong khu vực trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh.
Sự bất ổn của tình trạng này trong khu vực thể hiện rõ qua các bản tin nhiều lần đưa tin về các sự kiện liên quan đến việc bắt giữ thuyền bè và bắt giữ để trả đũa bởi các cơ quan của các chính phủ cạnh tranh và việc tăng cường quân sự hoá khu vực[23]. Kể từ năm 1974, Trung Quốc và Việt Nam đã có hai cuộc hải chiến nhằm chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa và một số đảo nhất định trong quần đảo Trường Sa. Đạo luật mới về các vùng nước lãnh thổ của Trung Quốc yêu cầu các tầu quân sự nước ngoài phải được sự phê chuẩn trước của Bắc Kinh trước khi đi vào các “vùng nước lãnh thổ” của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng nước quanh quần đảo Trường Sa. Các tầu mang các chất hạt nhân và chất độc hại cũng yêu cầu phải có giấy xác nhận của chính phủ trước khi đi qua những vùng nước này[24]. Nhằm thực thi những yêu cầu này, đạo luật mới cho phép hải quân Trung Quốc được dùng vũ lực để đẩy lùi các tàu ngoại quốc bị phát hiện ở những vùng nước xung quanh các đảo yêu sách[25].
Một khi các quốc gia cạnh tranh bắt đầu thực hiện những bước đi chắc chắn hơn nhằm thực hiện việc đơn phương mở rộng quyền lực trên biển và lãnh thổ của họ trên Biển Đông thông qua việc định rõ giới hạn quốc gia trên biển của họ và sau đó, cấp nhượng quyền và cấp phép cho các dự án nằm trong những vùng yêu sách, một điều không tránh khỏi là, vũng lầy của sự chồng lấn quyền tài phán sẽ khiến cho những đường ranh giới được khẳng định không còn chức năng phục vụ cho mục đích lập bản đồ những vùng thẩm quyền để phát triển nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, một điều còn đáng ngại hơn là có nhiều khả năng các yêu sách đối kháng này sẽ làm tăng thêm những mối quan tâm của quốc gia về việc bảo vệ an ninh quốc gia chống lại những đe dọa từ bên ngoài, và do đó, làm gia tăng sự căng thẳng trong khu vực, có lẽ sẽ đạt tới điểm, khi việc sử dụng những biện pháp quân sự chủ động trở nên thiết thực đối với một số chính phủ[26].
Do vậy mà cho tới nay, việc các nước cạnh tranh dựa vào những quy tắc chung của luật quốc tế để củng cố cho những yêu sách tài phán của họ trên Biển Đông đã không dẫn đến việc thiết lập và duy trì trật tự trong khu vực. Ngược lại, có một điều hiển nhiên là, những quy tắc này chủ yếu được sử dụng để hỗ trợ và củng cố cho chủ nghĩa đơn phương hành động, coi đó là một phương thức hành động tốt hơn trong bối cảnh mâu thuẫn gia tăng về phạm vi quyền lực lãnh thổ và biển của các quốc gia tranh chấp[27]. Do đó, những người ra quyết định của các nước này sẽ phải gánh vác thêm một nguy cơ, khi việc sử dụng quyền lực bị lạm dụng, trở thành phương tiện để chống đỡ cho những lời khẳng định đơn phương về thẩm quyền tài phán, thì các chuẩn mực pháp lý quốc tế sẽ mất đi sự tin cậy và những viện dẫn tài liệu, chứng cứ của họ sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa.
Bất chấp bối cảnh khó khăn này, vẫn có lý do để phản đối suy nghĩ bi quan rằng, chiến tranh trong khu vực là không thể tránh khỏi. Hội nghị Băng Đung đã chỉ ra, việc các quốc gia quan tâm vẫn sẵn lòng tìm kiếm những giải pháp thay thế để dàn xếp những yêu sách đối kháng của họ. Trong khi có thể là quá sớm khi thấy ở Hội nghị Băng Đung những biểu hiện rõ ràng về một giải pháp mới để giải quyết những yêu sách mâu thuẫn và chồng lấn ở Biển Đông, thì có gợi ý về thiện chí giữa những người ra quyết định, có tính đến khả năng có sự hưởng ứng toàn diện của khu vực về các vấn đề biển và các vấn đề liên quan đến biển, ví dụ như việc xác định quy chế của quần đảo Trường Sa, có thể được thay vì việc trước đây vẫn dựa vào những công thức rút ra từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế.
Do vậy, công trình nghiên cứu này sẽ triển khai từ việc thừa nhận rằng, một định nghĩa và việc vận dụng thực tế của một giải pháp mang tính khu vực để giải quyết việc phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên đại dương ở Biển Đông là mục tiêu có thể đạt được. Như một bước đi đầu tiên trong nỗ lực này, việc xem xét các yêu sách tạo nên tranh chấp Trường Sa trở nên cần thiết gấp đôi. Trước tiên, phải làm rõ lý do tại sao việc ngoan cố tiếp tục quyết định xem quốc gia tranh chấp nào có yêu sách hiệu lực nhất về quyền sở hữu đối với các đảo của quần đảo Trường Sa, trên cơ sở những quy tắc chung của luật quốc tế được xây dựng với mục đích xác định các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, sẽ chỉ đào sâu thêm sự sụp đổ trong khu vực và do đó, đẩy nhanh thêm việc các bên yêu sách đối kháng tái sử dụng các biện pháp quân sự để tăng cường các vị trí của họ trong khu vực. Thứ hai, việc nghiên cứu các yêu sách đối với quần đảo Trường Sa sẽ chứng minh, tại sao các quốc gia ven Biển Đông lại nên chuyển việc tập trung ưu tiên của họ từ việc cân nhắc sức nặng của những luận điểm mang tính pháp lý nhằm bảo vệ cho những khẳng định không chắc chắn lắm về quyền sở hữu lãnh thổ các đảo sang phân tích những quyền lợi cụ thể của họ trong việc sử dụng chính nguồn tài nguyên biển và xác định rõ chức năng của những quyền lợi như vậy sao cho phù hợp với khoảng không gian biển trong khu vực. Sau cùng, nghiên cứu tranh chấp quần đảo Trường Sa mong muốn đưa ra được một khung hữu dụng, cho phép các thực thể hữu quan tạo nên được những dàn xếp mới có hiệu quả để giải quyết các vấn đề cụ thể, trong trường hợp của họ với tư cách là những thành viên trong một khu vực địa lý có chung các lợi ích kinh tế và chính trị trong việc sử dụng một nguồn tài nguyên chung.
Vấn đề chủ quyền lãnh thổ
Ngay từ khi mới phôi thai, và trong suốt quá trình lịch sử được ghi nhận, tranh chấp quần đảo Trường Sa đã nảy sinh như một cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia xung quanh về chủ quyền đối với vùng lãnh thổ được coi là có vị trí chiến lược để kiểm soát những con đường hàng hải và thương mại ở Biển Đông. Chỉ cho tới sau Chiến tranh thế giới II, quy mô của tranh chấp về hàng hải mới trở nên ngày càng nổi bật do kết quả sự vận động của luật quốc tế theo hướng pháp điển hoá các nguyên tắc tập quán và sự xuất hiện của xu hướng sử dụng các đại dương được đúc kết lại qua quá trình soạn thảo Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS). Cùng với việc quy chế hoá các nguyên tắc được xây dựng qua UNCLOS, giữa những người ra quyết định trong khu vực đã nảy sinh sự thừa nhận hai yếu tố cơ bản của vấn đề Biển Đông - (1) việc định rõ chủ quyền đối với các nhóm đảo tranh chấp và (2) việc phân định quyền tài phán đối với không gian biển - có mối quan hệ nội tại chặt chẽ[28]. Chỉ cho tới sau Hội nghị Băng Đung thì tính logic của một giải pháp thuần tuý về biển để giải quyết tranh chấp mới được xem xét một cách nghiêm túc[29].
Quan điểm “trước-Băng Đung” được thiết lập chủ yếu trên cơ sở thừa nhận rằng, theo các quy tắc phổ biến về việc phân định ranh giới biển, việc thiết lập quyền sở hữu đối với các đảo là điều kiện tiền đề để sử dụng chúng làm điểm cơ sở, từ đó các quốc gia ven biển xác định được phạm vi thẩm quyền trên biển tương ứng của họ. Việc nhấn mạnh, vấn đề ai có quyền sở hữu hiệu lực đối với các đảo cần phải được giải quyết trước tiên, trước khi vấn đề phân định ranh giới biển được đề cập trở thành một chính sách giữa các quốc gia cạnh tranh đối với quần đảo Trường Sa[30]. Đáng chú ý là, những nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến các tranh chấp đảo ở Biển Đông phản ánh giả thuyết này; các nghiên cứu khai thác vấn đề chủ quyền đối với các đảo không thể đưa ra được gì khác hơn là những giới hạn chung cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến việc phân định quyền tài phán trên biển, sau khi thừa nhận rằng, vấn đề chủ quyền vẫn chưa được giải quyết và có vẻ trở nên ngày càng khó hơn[31].
Việc xem xét những chính sách đang tồn tại về những yêu sách quyền sở hữu hay chủ quyền chồng lấn đối với quần đảo Trường Sa cho thấy, những cơ sở pháp lý của họ chủ yếu xoay quanh ba căn cứ đã được thừa nhận và phát triển trong pháp luật quốc tế, như “các cơ sở của danh nghĩa” cho việc thụ đắc lãnh thổ. Trước tiên, bài viết này sẽ cố gắng giải thích tại sao, việc áp dụng chi tiết các cơ sở này của các bên yêu sách nhằm tạo nên các luận điểm pháp lý, ủng hộ cho những vị thế tương ứng của họ đã không dẫn đến việc giải quyết một cách triệt để yếu tố lãnh thổ của tranh chấp Trường Sa. Thứ hai, cũng trình bày tại sao việc tìm kiếm một giải pháp như vậy, thông qua sử dụng cuộc cạnh tranh về chứng cứ, khi mỗi quốc gia quan tâm cố gắng kiến lập sự tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý để chứng minh chủ quyền lãnh thổ, sẽ không chỉ là vô nghĩa, mà thậm chí còn làm kéo dài tranh chấp, như nguồn mâu thuẫn không ngừng giữa những bên hoạt động trong khu vực.
1. Các yêu sách dựa trên danh nghĩa lịch sử
Trong số các bên tranh chấp quần đảo Trường Sa, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là đưa ra được yêu sách có thể tin cậy về chủ quyền trên cơ sở danh nghĩa lịch sử[32]. Cơ bản, điều này có nghĩa, mỗi quốc gia này đều duy trì ý kiến của họ cho rằng, người của họ là những người đầu tiên phát hiện, xây dựng, và quản lý quần đảo, do vậy, kết quả nó đã trở thành một phần lãnh thổ của họ.
Tuyên bố công khai đầu tiên của Trung Quốc về yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông nằm trong tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Chu Ân Lai ngày 15/8/1951, ba tuần trước khi kết thúc Hội nghị Hoà bình San Francisco và ký kết Hoà ước với Nhật Bản, theo đó Nhật Bản từ bỏ mọi yêu sách chủ quyền của họ đối với quần đảo Trường Sa cũng như với Đài Loan, Đông Sa, Bãi Trung Sa, quần đảo Pescadores và quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc và Đài Loan đã bị loại khỏi hội nghị theo thoả hiệp giữa một bên là Mỹ và Vương quốc Anh và một bên là Liên Xô khi các nước này không thể thoả thuận được với nhau theo uỷ nhiệm thư nào của Trung Quốc, Bắc Kinh hay Nangking/Đài Bắc được chấp nhận tham gia hội nghị. Tuyên bố của Chu Ân Lai có nội dung sau:
Dự thảo (Hoà ước) quy định rằng, Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi yêu sách đối với đảo Nam Uy (Trường Sa) và quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), nhưng không đề cập đến vấn đề phục hồi chủ quyền. Trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa và đảo Trường Sa, cũng như toàn bộ quần đảo Trường Sa, và các quần đảo Chung-sha (bãi Macclesfield), và Tung-sha (Pratas, Đông Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Mặc dù chúng bị đế quốc Nhật Bản chiếm đóng một thời gian trong chiến tranh nhưng đã được chính phủ Trung Quốc tiếp quản sau khi Nhật Bản đầu hàng. Chính quyền Nhân dân Trung ương của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố như sau: chủ quyền không thể xâm phạm của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa sẽ không bị suy giảm, dù cho Anh và Mỹ soạn thảo hoà ước với Nhật Bản có bất cứ sự điều chỉnh nào khác hay có tính chất tương tự như vậy[33].
Phân tích tuyên bố của ông Chu, báo Nhân Dân Trung Hoa đăng tải một bài viết trích dẫn các tài liệu làm bằng chứng cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông như “Wujing Zongyao” có từ thế kỷ 11 thời nhà Tống, việc phát hiện trên các đảo những đồng tiền xu và các đồ tạo tác khác từ thế kỷ 14 thời nhà Minh và những tài liệu ghi nhận về các cuộc tuần tiễu hải quân trong khu vực của những nhà hàng hải Trung Hoa như Phó Thống đốc Wushing trong thế kỷ 18 dưới triều nhà Thanh[34]. Trong một tài liệu sau này của Bộ Ngoại giao có tên “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các quần đảo Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha)” ban hành ngày 30/1/1980, Trung Quốc tìm cách thiết lập yêu sách của mình trên cơ sở những bằng chứng cổ xưa hơn qua việc trích dẫn hai quyển sách mang tên “Nanzhou Yiwuzhi” và “Funanzhuan” có từ thế kỷ 3 thời kỳ Tam Quốc để chứng minh rằng, người Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá ra quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa và khai thác các nguồn lợi của chúng[35].
Về phía mình, Việt Nam đã tuyên bố và mở rộng yêu sách lịch sử của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong hai quyển “Sách Trắng” do Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản lần lượt vào các năm 1979 và 1982, mỗi quyền sách đều khẳng định “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”[36].Cả hai tài liệu đều trích dẫn năm bằng chứng nhằm thiết lập các yêu sách lịch sử của Việt Nam, tất cả đều gắn với các hoạt động dưới triều nhà Nguyễn, trước tiên với tư cách là người thống trị phía Nam Việt Nam, sau đó được gọi là Cochinchina (Đàng Trong) trong thế kỷ 17, và sau này với tư cách là hoàng đế An Nam, được thiết lập bằng sự thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài ở phía Bắc trong thế kỷ 19. Bằng chứng cổ nhất là một bản đồ của vùng Quảng Ngãi, miền Nam Việt Nam, xác nhận một bãi cát ngầm được gọi là “Bai Cat Vang” ở “Biển Đông”, nơi hoạt động cứu hộ đã được thực hiện nhân danh các hoàng tử nhà Nguyễn. Bản đồ này được lưu trong tập bản đồ “Hồng Đức”, một tập hợp bản đồ của Việt Nam được soạn vào khoảng giữa năm 1460 và 1497, nhưng chỉ đến thế kỷ 17 mới được biên soạn[37]. Các mục khác trong các quyển “Sách Trắng” được trích dẫn làm bằng chứng cho mối liên hệ của Việt Nam với các đảo ở Biển Đông, đã ghi nhận sự phát triển quyền lợi của người Việt Nam trong hoạt động kinh doanh cứu hộ có lợi ở các đảo[38] và những nỗ lực của các ông vua triều Nguyễn trong việc thăm dò các đảo, nhằm mục đích đánh giá các nguồn tài nguyên của chúng[39].
Trong khi nhìn chung có thể thừa nhận rằng, về mật độ và tính lâu đời, thì những tài liệu lịch sử mà Trung Quốc dựa vào để tạo nên cơ sở có vẻ hợp lý nhất hỗ trợ cho cái gọi là phát hiện và khai thác các quần đảo ở Biển Đông sớm nhất, những tài liệu lịch sử này lại không ủng hộ một cách vững chắc cho vị trí của Trung Quốc vì nó còn nhiều vấn đề về bằng chứng và ngữ văn[40].
a. Vấn đề bằng chứng
Trước tiên, Trung Quốc cần phải giải quyết vấn đề xác định một cách rõ ràng những đảo mà họ yêu sách là do mình phát hiện và khai thác. Những tài liệu sớm nhất của Trung Quốc không đề cập trực tiếp đến quần đảo Trường Sa, mà chỉ xác định một cách chung chung các điểm với những cái tên như “Ch’ien-li changsa” và “Wan-li Shih T’ang” ở “các biển phía Nam”, quanh khu vực mà bây giờ được biết đến là quần đảo Hoàng Sa và gần với đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn bất kỳ đảo nào thuộc Trường Sa, quần đảo nằm xa hơn ngoài biển[41]. Xu hướng này phù hợp với quan niệm rằng, hầu hết các tài liệu lịch sử ban đầu mô tả về khu vực Biển Đông ghi nhận các điểm trên bờ biển nhiều hơn là trên đại dương hay các con đường biển[42]. Hơn nữa, những nỗ lực nhằm lập bản đồ chính xác của khu vực bên ngoài các con đường ven biển sau thế kỷ 15 đã mất đi động lực của nó, khi nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ việc bảo trợ các cuộc thám hiểm biển như những cuộc thám hiểm do đô đốc Cheng Ho thực hiện trước đó, và thay vào đó, bắt đầu có xu hướng hướng nội và mất đi vị trí thống lĩnh của họ trên những con đường vận tải biển ở Biển Đông[43]. Đề cập cụ thể lần đầu tiên trong tài liệu của Trung Quốc về một nhóm đảo ở phía Nam và cách xa quần đảo Hoàng Sa nay được xác định với một tên ghép là “Wan-li ch’ang- sha” chỉ xuất hiện năm 1730, trong một cuốn sách do Ch’en Lun-chiung xuất bản với tựa đề “Hai-kuo wen-chien lu” hay “Thắng cảnh và âm thanh của các nước ven biển”, theo đó chúng được gọi, vẫn chỉ với cụm từ chung là “Ch’ien-li shih-t’ang” hay “Bãi ngầm vạn lý”[44]. Điều này rõ ràng không đủ để xác định quần đảo Trường Sa nếu như ta xem xét số lượng các đảo và không gian biển được yêu sách là thuộc về chúng. Sự thiếu cụ thể trong việc xác định quần đảo Trường Sa vẫn tiếp diễn cho mãi tới năm 1820, khi Yang Ping-nan xuất bản cuốn “Ha-lu” hay “Các nguồn tài nguyên biển”, theo đó quần đảo Hoàng Sa hay “Wan-li ch’ang-sha” được xác định là điểm phân luồng giao thông, hay ranh giới giữa những con đường “bên trong” và “bên ngoài” ở Biển Đông, nối liền Canton và Batavia và cũng là vành đai bảo vệ phía ngoài của Việt Nam[45]. Trái với mô tả chi tiết này về vị trí của quần đảo Hoàng Sa, cuốn Hai lu hạn chế miêu tả về quần đảo Trường Sa hay “Ch’ien-li shih-t’ang”, chỉ đơn giản là ở “phía Nam của biển Ch’i-chou” và “ phía Tây của Lu-sung” - đảo Luzon của Philippin[46]- và do vậy gây nên sự hiểu biết không rõ ràng trong giới các học giả và các nhà hàng hải đương thời về kích thước cụ thể của quần đảo Trường Sa[47].
Việt Nam cũng vấp phải vấn đề về bằng chứng như vậy. Nguồn tài liệu sớm nhất được trích dẫn trong Sách Trắng của Việt Nam gộp cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa dưới cái tên chung là “Hoàng Sa”, “Đại Trường Sa” và “Vạn lý Trường Sa”, dù rằng “Hoàng Sa” hiện nay được sử dụng để chỉ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhiều nhất. Sự lẫn lộn về thuật ngữ này đã giúp cho Việt Nam khẳng định rằng, tất cả các tài liệu ban đầu đề cập đến hoạt động cứu hộ và đánh cá ở trong và xung quanh quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập đến những hoạt động tại quần đảo Trường Sa, vì sự xác định của địa phương về quần đảo Hoàng Sa ghi nhận trong các tài liệu này có bao gồm cả quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, lập luận này không thuyết phục, vì thực tế vị trí địa lý cụ thể của quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa tạo nên cơ sở vững vàng để lập luận rằng, mỗi quần đảo đều khác biệt hẳn với quần đảo kia về mặt địa lý[48]. Thay vào đó, lập luận rằng, việc đề cập đến các hoạt động ở quần đảo Hoàng Sa cũng đề cập chung đến các hoạt động trên toàn bộ khu vực Biển Đông có vẻ như là một cố gắng yếu ớt nhằm che khuất các tài liệu lịch sử chỉ ra rằng, các hoạt động này diễn ra là chỉ ở quần đảo Hoàng Sa. Tính không xác thực của lập luận như vậy trên cơ sở vận dụng những cái tên được chứng tỏ trong thực tế là nó có thể dễ dàng quay trở lại chống lại chính những người sử dụng nó. Ngay từ cuối những năm 1950, Trung Quốc và Philippin đã cố đưa ra lập luận rằng, những yêu sách của họ đối với nhóm đảo “Nam Sa” và “Kalayaan” không hề ảnh hưởng gì đến “Trường Sa” của Việt Nam vì những cái tên này đề cập đến một nhóm đảo khác với nhóm đảo mà Việt Nam yêu sách.[49]
Sự thiếu tính cụ thể và phân biệt giữa các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông thể hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam dựa vào đã đưa đến kết luận, dù rằng bản đồ thực tế của khu vực tới giữa thế kỷ 19 đã trở nên rõ ràng hơn, thì những số liệu có được vẫn chỉ đề cập đến những nhóm đảo ở ngoài khơi xa.[50]
Sự mơ hồ của các tài liệu lịch sử còn kèm theo những nghi ngờ về tính xác thực của bản thân các tài liệu đó. Chú ý rằng, những yêu sách hiện đại về danh nghĩa lịch sử chưa bao giờ được chính thức hoá bằng những công cụ pháp lý không thể bác bỏ được và có hiệu lực ràng buộc không bị tranh cãi[51]. Kết quả là có nhiều cơ hội và động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy các bên yêu sách tiếp tục tìm kiếm các chứng cứ có thể chứng minh cho sự tồn tại một mối liên hệ lịch sử lâu dài với quần đảo Trường Sa, bất chấp có thể xác minh được hay không. Việc so sánh xem Trung Quốc đã làm như thế nào để “cụ thể hoá” yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông, trong khoảng thời gian giữa tuyên bố năm 1951 của ông Chu và thông cáo của Bộ Ngoại giao năm 1980 về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho thấy sự linh hoạt, theo đó những tài liệu như vậy có thể mở rộng ra, bao gộp chứng cứ về mối liên hệ mà họ yêu sách, biện luận là mang tính cổ xưa nhưng lại chỉ mới “phát hiện gần đây”[52]
b. Xét về luật đương thời
Ngoài những mối quan tâm về sự xác thực và tính chính xác của các tài liệu lịch sử tương ứng, cả Trung Quốc và Việt Nam buộc phải giải quyết một vấn đề mang tính nền tảng, hơn là liệu những bằng chứng danh nghĩa lịch sử có còn có sức nặng nào trong việc coi đó là một hình thức thụ đắc lãnh thổ. Một điều theo các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại đã được xác định rõ, là việc phát hiện lãnh thổ mới không mang lại cho người phát hiện ra nó danh nghĩa quyền sở hữu không thể bác bỏ, mà nó chỉ tạo nên danh nghĩa ban đầu và danh nghĩa này cần phải được củng cố thêm bằng việc chiếm hữu liên tục, hiệu lực sau đó[53]
Việc áp dụng nguyên tắc hiện đại này, dựa trên tiêu chuẩn “chiếm hữu” để đánh giá liệu yêu sách và những hành động tiền hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam có đủ để thiết lập một danh nghĩa hoàn hảo đối với các quần đảo bị tranh chấp, hiện đang bị coi là không công bằng do có giả thuyết cho rằng, thay vào đó các tiêu chuẩn hiện đại cho việc hình thành hay thiết lập các yêu sách cần phải được áp dụng[54]. Việc áp dụng nguyên tắc “luật đương thời” này đã được xét tới trong phán quyết trọng tài vụ đảo Palmas ngày 4/4/1928. Sau khi nhượng bộ rằng, một thực tiễn pháp lý cần phải được đánh giá dưới ánh sáng của luật đương thời với nó và không phải là luật có hiệu lực vào thời điểm tranh chấp có liên quan, khi xuất hiện hay được đưa ra giải quyết, trọng tài duy nhất, Max Huber, đã đưa ra tiêu chuẩn sau đây:
“Về vấn đề hệ thống luật nào thịnh hành tại các thời kỳ kế tiếp nhau được áp dụng trong một vụ việc cụ thể (luật đương thời), cần phải phân biệt rõ giữa việc tạo lập các quyền và sự tồn tại của các quyền. Nguyên tắc giống như vậy đối với hành vi tạo lập quyền theo luật có hiệu lực tại thời điểm mà quyền đó phát sinh, đòi hỏi sự tồn tại của quyền và sự biểu hiện liên tục của nó sẽ phải tuân theo các điều kiện mà sự phát triển của luật đòi hỏi.”
Bằng việc đưa ra sự phân biệt này, Huber đã có thể kết luận rằng, vào thế kỷ 19, khi tranh chấp Palmas phát sinh, nguyên tắc chiếm hữu hiệu lực là nguyên tắc bao trùm của luật quốc tế, khẳng định việc thiết lập chủ quyền lãnh thổ. Do vậy, ông cũng kết luận, hành vi phát hiện không đủ để thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ tranh chấp, nếu như nó không được công nhận giá trị thông qua các hành vi chiếm hữu tiếp sau, thậm chí có sự nhượng bộ là một hành vi phát hiện hệt như vậy có thể tạo nên chủ quyền lãnh thổ cho người phát hiện với tư cách là danh nghĩa thụ đắc vào thế kỷ 16. [56].
Một thách thức ẩn chứa trong việc thực hiện nguyên tắc luật đương thời trên danh nghĩa lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam yêu sách là nguyên lý rằng, các yêu sách lịch sử của họ nếu được chứng minh đầy đủ bằng bằng chứng thì bản thân chúng đều đủ sức hỗ trợ cho khẳng định về chủ quyền lãnh thổ. Sự vững chắc của lập luận này trở nên rõ ràng, khi xét thấy các yêu sách muốn được đánh giá theo nguyên tắc này đã phát triển độc lập với truyền thống luật quốc tế phương Tây trên cơ sở của nó nguyên tắc luật đương thời được xây dựng nên. Vấn đề này sẽ được chứng minh rõ hơn khi xem xét dưới góc độ các hậu quả của những yêu sách lịch sử khi áp dụng luật đương thời. Bằng việc tách giá trị của chiếm hữu hiệu lực, với tư cách là một phương thức thụ đắc lãnh thổ ra khỏi việc cần có danh nghĩa lịch sử tồn tại từ trước, vụ Palmas đã đưa ra một cơ sở pháp lý, theo đó các bên thứ ba có thể xen ngang vào các yêu sách của Trung Quốc hay Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Nhưng nguyên tắc mà vụ Palmas đặt ra đối với luật đương thời chẳng có nghĩa lý gì, việc chú trọng vào các tiêu chuẩn tiền hiện đại sẽ chẳng giúp gì nhiều cho các yêu sách của Trung Quốc hay của Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với các quần đảo ở Biển Đông. Tư tưởng chính trị và pháp lý của Trung Quốc, phản ánh ảnh hưởng của luân lý Khổng giáo, quan niệm một vùng trên đó một quốc gia, hay “quốc”, có chủ quyền, không phải với chức năng của những giới hạn pháp lý, mà của tổ chức xã hội, lịch sử và sự trung thành của các thần dân[57]. Hoàng đế cai trị những thần dân chứ không phải là không gian; vùng đất cai trị được xác định như những điểm cư dân sinh sống và sử dụng. Do vậy, ranh giới phạm vi chủ quyền lãnh thổ được thể hiện ở những vùng ảnh hưởng chứ không phải ở những đường ranh giới xác định[58]. Nguyên tắc này sẽ giải thích tại sao mãi tới thế kỷ 19, vẫn không có bằng chứng nào về việc chính thức sáp nhập quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa vào lãnh địa do nhà Thanh, Trung Quốc cai trị[59]. Hơn nữa, ý tưởng về chủ quyền đại dương như sự mở rộng thẩm quyền chính đáng của quốc gia đối với cột nước ở biển, nếu có thì cũng chỉ đóng một phần rất nhỏ trong học thuyết chính trị và pháp lý truyền thống của Trung Quốc[60]. Chủ quyền chấm dứt trùng với sự kết thúc của bờ biển và sự vươn ra biển được giới hạn ban đầu nhằm kiểm soát việc ra vào các cảng và những con đường thủy nội địa để chống lại nạn buôn lậu và cướp biển[61]. Vùng biển không mang một giá trị chiến lược thực chất, ngoài tư cách là một vùng tiền tuyến quốc phòng và do vậy, những vùng nước khu vực, như Biển Đông, đã được coi là một phần cấu thành của vành đai bảo vệ bên ngoài[62]. Phù hợp với triển vọng hướng về đất liền đó, những tài liệu ghi chép trong giai đoạn này khẳng định, không nhiều hơn là sự công nhận về mặt địa lý các đảo ở Biển Đông là những điểm phân luồng giao thông quan trọng, là những mối nguy hiểm cho hàng hải và là những phần của một vành đai bảo vệ có thể mở rộng được cho sự bành trướng của đế chế[63]
Việt Nam cũng phải đối mặt với một vấn đề riêng biệt, nếu như yêu sách lịch sử của họ đối với các quần đảo ở Biển Đông được đánh giá bằng các tiêu chuẩn tiền hiện đại. Trong lịch sử, Trung Quốc coi Việt Nam là một nước chư hầu và do vậy, coi tất cả các lãnh thổ mà Việt Nam chiếm hữu hay thuộc quyền tài phán của Việt Nam đều nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc. Trong khi Đàng Ngoài của Việt Nam có thể yêu sách là “độc lập” với triều đình Trung Quốc ngay từ thế kỷ thứ mười, thì họ vẫn duy trì quan hệ nghi thức triều cống ba năm một lần với hai mục đích, đảm bảo việc Trung Quốc không can thiệp vào công việc nội bộ của Đàng Ngoài và tạo nên sự hỗ trợ về mặt quân sự hay bảo vệ chống xâm lược từ bên ngoài[64]. Thậm chí vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, An Nam vẫn tiếp tục triều cống Trung Quốc trong thế kỷ 19, một hành động có thể giải thích lý do tại sao nhà Thanh của Trung Quốc đã lờ đi những tấu chương nói rằng nhà vua đã chính thức chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa với danh nghĩa đất nước mình năm 1816.[65]
Đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam đã độc lập tách biệt khỏi quỹ đạo thống trị chính trị của Trung Quốc. Năm 1862, hoàng đế Tự Đức của An Nam đã ký kết một hiệp ước với Pháp, trao cho Pháp những quyền rất lớn trong vương quốc của ông ta, bao gồm cả việc nhượng ba tỉnh Nam bộ, mở cửa ba cảng của An Nam cho Pháp buôn bán, trao cho Pháp quyền đi lại trên sông Mê Kông và cam kết không chuyển nhượng bất cứ một phần lãnh thổ An Nam nào cho bất cứ một quốc gia nào khác, ngoài Pháp[66]. Năm 1874, An Nam ký một hiệp ước Hoà bình và Liên minh với Pháp, trong đó, để đổi lại sự thừa nhận của Pháp đối với độc lập và chủ quyền của họ trước bất kỳ thế lực thứ ba nào cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về quân sự của Pháp trong trường hợp có ngoại xâm, An Nam nhường cho Pháp quyền quản lý hoạt động đối ngoại của mình[67].
Bất chấp những hành động đó, vào thời điểm này, An Nam đã không cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc. Nhiều khi họ yêu cầu Trung Quốc can thiệp để duy trì trật tự ở các tỉnh Bắc bộ “giáp giới” với biên giới phía Nam của Trung Quốc, làm nản lòng Pháp, kẻ đang cố gắng củng cố sự kiểm soát của họ ở Đông Dương và cũng là kẻ coi những hành vi này của An Nam là sự vi phạm nghĩa vụ của An Nam theo hiệp ước. Nhằm kiểm soát sự can thiệp liên tục của Trung Quốc vào Đông Dương, Trung Quốc và Pháp đã ký kết Hiệp định Ly - Fournier năm 1884, theo đó Trung Quốc thoả thuận tôn trọng mọi thoả thuận trong quá khứ cũng như trong tương lai giữa Pháp và An Nam và mở cửa biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ cho Pháp buôn bán[68]. Mặt khác, Pháp tuyên bố, khi ký kết bất ký hiệp ước nào giữa họ và An Nam, họ sẽ cố gắng tránh dùng bất cứ sự biểu đạt nào có thể gây nguy hại hay làm tổn thương đến uy tín của đế chế Trung Hoa[69]. Tuyên bố này được giải thích là tạo nên một sự công nhận gián tiếp quyền bá chủ của Trung Quốc đối với An Nam và, hệ quả là, đối với tất cả những gì mà An Nam chiếm hữu[70].
Dù không bao lâu sau đó, Hiệp định Ly - Fournier được nối tiếp bằng việc thiết lập sự bảo hộ của Pháp đối với An Nam và tất cả những gì An Nam sở hữu[71], trong thời kỳ này, An Nam tiếp tục sử dụng Trung Quốc để chống lại Pháp. Theo yêu cầu của An Nam, Trung Quốc đã cử quân đội giao chiến với Pháp năm 1885. Sau một số thắng lợi ban đầu, lực lượng của Trung Quốc đã bị đánh bại và Trung Quốc buộc phải ký một hiệp định mới với Pháp, theo đó họ thoả thuận không can thiệp vào việc Pháp quản lý hoạt động đối nội của An Nam[72]. Tuy nhiên, khác với Hiệp định Ly - Fournier được ký một năm trước, trong đó có những tham chiếu cụ thể đến việc bảo vệ uy tín của Trung Quốc, hiệp định mới đã bổ sung thêm một điều kiện với một tuyên bố tương tự của Pháp. Điều 2, đoạn 2 của Hiệp ước Thiên Tân ký ngày 9/6/1885 quy định, về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Trung Quốc và An Nam, việc Pháp công nhận uy tín của Trung Quốc không được hiểu theo hướng trái ngược với các điều khoản của hiệp ước mới[73]. Vì vậy chỉ đến năm 1885, việc huỷ bỏ chính thức mối quan hệ triều cống truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam mới chính thức có hiệu lực.
Toà án Pháp lý quốc tế đã có cơ hội xem xét tác động của các mối quan hệ chính trị phong kiến với việc đánh giá các yêu sách cạnh tranh về danh nghĩa lịch sử đối với lãnh thổ tranh chấp của các quốc gia thống trị và nước chư hầu trong quyết định ngày 7/11/1953, trong vụ Minquiers và Ecrehos. Vụ này nảy sinh từ một tranh chấp giữa Pháp và Vương quốc Anh về chủ quyền đối với một số đảo trong eo biển Măng Sơ. Trước năm 1204 sau CN, các vua của nước Anh đã được trao quyền sở hữu các đảo tranh chấp với tư cách là các công tước xứ Normandy và là chư hầu của vua Pháp. Năm 1204, một toà án của Pháp tuyên bố thu hồi những lãnh địa thuộc quyền sở hữu của triều đình Pháp mà vua nước Anh nắm giữ. Sau đó, triều đình Pháp cũng đã thu hồi việc trao đất của Pháp cho Anh. Dù cuối cùng người Pháp giành lại quyền chiếm hữu lục địa Normandy từ tay người Anh, nhưng họ không thể giành lại được quyền chiếm hữu các đảo ở eo biển Măng Sơ vẫn thuộc về người Anh, trừ trong một thời gian ngắn khi tranh chấp xảy ra. Toà án Pháp lý quốc tế quy định, dù rằng nhà vua Pháp đã có danh nghĩa phong kiến ban đầu đối với nhóm đảo Măng Sơ, nhưng danh nghĩa đó đã mất hiệu lực và hiện tại không tạo nên được một kết quả pháp lý nào. Quyết định của toà án Pháp năm 1204 được coi là không có hiệu lực thi hành, do các vua nước Pháp không trực tiếp chiếm hữu nhóm đảo vào thời điểm ban hành quyết định đó[74].
Có thể kết luận từ vụ Minquiers rằng, những mối liên hệ phong kiến của nước chư hầu sẽ không ảnh hưởng gì đến các yêu sách đối kháng của họ với nước bá chủ về quyền sở hữu đối với lãnh thổ được trao, với điều kiện là nước chư hầu tiếp tục chiếm hữu lãnh thổ một cách độc nhất và đối kháng sau khi mối quan hệ phong kiến đã bị huỷ bỏ hay chấm dứt. Trong bối cảnh tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, công thức này đòi hỏi trước tiên phải xác định rõ, thời điểm mà việc chiếm hữu của nước chư hầu trở thành đối kháng. Nếu như việc ký kết Hiệp định Ly - Fournier tháng 5/1884 được coi là thời điểm quyết định những hậu quả của mối liên hệ phong kiến giữa Trung Quốc và Việt Nam về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể biện luận rằng, bất cứ yêu sách nào của Việt Nam về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa, bắt nguồn từ những hành động do nhà nước bảo trợ trước năm 1884, cần phải được coi là thuộc về quyền lợi của Trung Quốc bởi vì, trước thời điểm đó, sự thống trị của Trung Quốc với Việt Nam và những gì thuộc sở hữu của họ vẫn còn được công nhận. Mặt khác, cũng không phải Việt Nam không thể tranh luận rằng, việc gián tiếp công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ngụ ý trong Hiệp định Ly - Fournier chủ yếu chỉ là tượng trưng bởi vì, trước hết, trong vòng một năm Trung Quốc đã có thể từ bỏ yêu sách của mình. Kế đến, Việt Nam có thể tuyên bố rằng, mối liên hệ phong kiến giữa họ với Trung Quốc, chủ yếu là thiết lập bởi việc triều cống ba năm một lần, và việc này vào thế kỷ 19 chỉ là một cử chỉ hư danh[75] và giống như các vua nước Anh trong vụ Minquiers sau năm 1204, thời gian chiếm hữu đối kháng của họ đối với quần đảo Trường Sa đã đủ trước khi Trung Quốc chính thức từ bỏ năm 1885 để thiết lập một yêu sách lịch sử độc lập.
Những vấn đề còn chưa được giải quyết về những yêu sách lịch sử của Trung Quốc và Việt Nam đã khiến cho các học giả tin rằng, dù vị thế lịch sử của mỗi bên có như thế nào, thì cơ sở pháp lý cho cả yêu sách của Việt Nam lẫn Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa đều bắt đầu từ những hiệp định ký vào cuối thế kỷ 19 và từ những hoạt động của những nhà cầm quyền quốc gia quan trọng tại khu vực kể từ thời điểm đó[76]. Bất kỳ một cuộc tranh cãi tiếp theo nào về việc bên nào trong các bên yêu sách có danh nghĩa lịch sử thuyết phục hơn sẽ mãi mãi không đi đến kết quả nào và do đó là vô ích.
c. Các yêu sách lịch sử theo tuyên truyền
Trong khi có thể nhận thấy rõ xu hướng chung trong các tài liệu lịch sử các quốc gia yêu sách đưa ra, là họ đang cố gắng hành động trong khuôn khổ của tiêu chuẩn “chiếm hữu” này, thì có thể thấy, trong các tuyên bố chính thức về quần đảo Trường Sa việc họ tin tưởng vào các yêu sách lịch sử về chủ quyền. Nếu các yêu sách lịch sử như vậy không mấy quan trọng trong dự tính của cộng đồng quốc tế thì điều gì được tính đến cho việc phục hồi những lập luận về các quyền lịch sử trong tranh chấp lãnh thổ như tranh chấp quanh khu vực quần đảo Trường Sa? Vấn đề này có thể được làm sáng tỏ khi xem xét để tìm hiểu xem liệu có phải những biểu hiện kiên trì của các yêu sách này chủ yếu dự định dành cho các thính giả trong nước, nhiều hơn là cho cộng đồng khu vực với hy vọng, những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử sẽ tỏ ra là công cụ hữu hiệu để động viên tinh thần dân tộc ủng hộ cho các mục tiêu chính sách ngoại giao. Các sự kiện ở cả Trung Quốc và Philippin là những ví dụ.
Sau khi Trung Quốc củng cố việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng việc đẩy người Việt Nam ra khỏi những cứ điểm của họ ở đó, chính phủ đã mở một chiến dịch khuếch trương lớn nhằm củng cố thêm yêu sách của Trung Quốc về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo này. Một nhóm khảo cổ đã được cử tới Hoàng Sa để nghiên cứu “lịch sử lâu đời” của Trung Quốc duy trì mối liên hệ và kiểm soát đối với khu vực này. Nhóm này đã biên soạn và xuất bản một tài liệu về các đồ tạo tác tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa, phần lớn trong số đó là các đồ sứ thời đầu nhà Minh. Các “đồ tạo tác” này, lúc đó được miêu tả như sau:
“xác tàu đắm từ nhiều thế kỷ chất lên thành đống, cả tàu nước ngoài và tàu Trung Quốc... (điều này) không xác nhận và cũng không bác bỏ sự hiện diện của Trung Quốc trên quần đảo này, chưa nói tới bất kỳ sự kiểm soát giả định nào đối với các hòn đảo này trong thời cổ đại và trung cổ.”[77]
“Chứng cứ” này đã sớm tạo cơ sở cho nhiều bài báo về lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, các triển lãm ảnh về quần đảo và hình ảnh về cuộc sống của những người lính tham gia vào cuộc viễn chinh của Trung Quốc năm 1974 để chiếm đóng Hoàng Sa[78] và thậm chí cả một bộ phim tài liệu do Quân đội Giải phóng nhân dân “PLA” sản xuất năm 1975, với tên “Các hòn đảo của Biển Đông ”. Trong suốt năm 1975, thông tấn Trung Hoa liên tục đưa các câu chuyện và hình ảnh về các đơn vị hải quân PLA và các lực lượng dân quân “anh hùng” ở Hoàng Sa.
Trong khi chủ yếu chiến dịch khuếch trương này rõ ràng nhằm vào những thính giả nước ngoài, thì nó cũng tỏ ra có cùng mục đích đối với trong nước để tăng cường sự ủng hộ của công chúng, không chỉ cho các chuyến đi của Trung Quốc tới Hoàng Sa mà còn cho chính PLA, khi nó trở thành đối tượng phê bình nghiêm khắc của “Bè lũ Bốn tên”[79]. Bằng việc chứng minh “các danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ban lãnh đạo của PLA đã tìm được một cơ hội, một mặt bảo vệ họ khỏi những lời buộc tội về sự không trung thực trong chính trị và về trình độ kém cỏi trong kỹ thuật và, mặt khác, tạo nên sự đồng tình của công chúng dành cho họ cũng như làm tăng thêm nhuệ khí trong các lực lượng vũ trang[80]. Vì vậy, đáng chú ý là, dù hoạt động trong năm 1974 ở Hoàng Sa được tiến hành theo sự xúi giục của PLA, vì nó cũng được tiến hành dưới khẩu hiệu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, nên không bộ phận nào trong giới cầm quyền Trung Quốc, gồm cả cánh “Bè lũ Bốn tên”, dám mạo hiểm về chính trị tới mức chống lại một hoạt động như vậy nếu sự thành công đã chắc chắn[81].
Việc sử dụng quần đảo Trường Sa như một khẩu hiệu lỗi thời để đẩy mạnh chương trình hoạt động trong nước của một nhóm giới chức cụ thể đã được chứng tỏ vào ngày 25 tháng 2 năm 1992, khi Trung Quốc thông qua bộ luật về các vùng nước lãnh thổ mới, tuyên bố, một số quần đảo tranh chấp tại Biển Đông và Nam Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là lãnh thổ Trung Quốc và bảo lưu quyền sử dụng vũ lực để đánh đuổi những kẻ xâm phạm. Các nhà quan sát đều đồng ý rằng, luật này đã được Quốc hội Nhân dân thông qua dưới sức ép của PLA[82]. Trong những tháng trước khi thông qua luật mới, Phó Chủ tịch tỉnh Hải Nam, Xin Yejiang, đã dẫn đầu một phái đoàn 25 người thực hiện một “cuộc tuần tra” của lực lượng hải quân Trung Quốc quanh Trường Sa -
để dựng lên [một] tượng đài như một biểu hiện nữa về chủ quyền [của Trung Quốc] đối với Trường Sa và vùng nước xung quanh [nó] và như là bằng chứng về quyết tâm (của Trung Quốc) bảo vệ và phát triển quần đảo Trường Sa[83].
Sau khi thông qua luật mới, ngày 22 tháng 2 năm 1992, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố, họ sẽ tăng 13,8% ngân sách cho quân đội để phù hợp với chương trình quân sự được trang bị vũ khí kỹ thuật cao và trang thiết bị để tạo nên một hình tượng sức mạnh trên biển[84]. Tháng 4 năm 1992, trong khi tuyên bố đã đến lúc Trung Quốc điều chỉnh lại chiến lược hải quân và cố gắng hơn nữa trong việc giành lại các nguồn tài nguyên dầu lửa và khí đốt trên Biển Đông, Phó Tổng tư lệnh Hải quân Trung Quốc, tướng Zhang Xusan đã khẳng định các kế hoạch của Trung Quốc, dự định trở thành một cường quốc về hải quân trong khu vực thông qua việc phát triển thêm vũ khí hiện đại để bảo vệ các yêu sách của mình đối với các quần đảo trên Biển Đông và để hỗ trợ cho phát triển kinh tế trong vùng[85].
Phản ứng của Phillippin đối với bộ luật mới của Trung Quốc về các vùng nước lãnh thổ cũng phản ánh sự năng động giữa yêu sách của chính họ đối với Trường Sa và những nỗ lực của các bộ phận giới chức địa phương trong việc tạo nên sự ủng hộ trong nước cho các hoạt động ngoại giao khác và mục đích của chính sách quân sự. Trong các cuộc họp do Thượng nghị viện Phillippin tiến hành vào tháng 9 năm 1991, trước khi bỏ phiếu có hay không phê chuẩn hiệp ước cho phép Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng quân đội và các căn cứ hải quân tại Phillippine, Bộ trưởng Quốc phòng Renato de Villa trình bày rằng, việc Hoa Kỳ rút quân có thể sẽ gây tác động, làm các nước láng giềng phản đối yêu sách của Phillippin đối với Trường Sa. Sau đó ông nói thêm rằng, Phillippin “chưa được chuẩn bị để đối phó với một cuộc đối đầu quân sự nổ ra tại Trường Sa”[86]. Tổng thống Phillippin Corazon Aquino đã công khai tuyên bố ủng hộ phê chuẩn hiệp ước này, nhưng một nhóm thượng nghị sỹ, có đủ số phiếu làm thất bại việc phê chuẩn, cũng công khai biểu lộ ý định của họ là bỏ phiếu chống lại hiệp ước. Trong khi ấy, Hoa Kỳ tuyên bố, họ sẽ rút 8.000 quân nhân còn lại khỏi Phillippin, nếu Thượng nghị viện không phê chuẩn hiệp ước[87].
Dù cho Thượng nghị viện bác bỏ hiệp ước đề xuất ký kết với Hoa Kỳ, một số nhà hoạch định chính sách của Phillippine vẫn tiếp tục gắn sự bất lực của Phillippin trong việc bảo vệ yêu sách của mình bằng quân sự với sự cần thiết phải giữ lại một hình thức tiếp tục hiện diện nào đó của quân đội Hoa Kỳ tại Phillippine. Việc Trung Quốc ban hành luật lãnh hải mới đã đủ để tạo nên động cơ cho việc mở lại cuộc tranh luận trong giới chức chính phủ Phillippin. Ngày 2 tháng 3 năm 1992, Phó Tổng thống Phillippin Salvador Laurel tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn truyền hình rằng, việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi căn cứ tại Phillippin, đã để Philippin trở nên “trơ trọi về chiến lược” và có lẽ, không thể đảm trách được việc tự phòng thủ[88]. Trong khoảng thời gian này, những nguồn tin khác từ chính phủ Phillipin gợi ý rằng, dù cho hiệp ước bị bác bỏ và Hoa Kỳ chuyển giao các căn cứ quân sự cho Philippin, Philippin vẫn có thể dành cho Hoa Kỳ một hình thức nào đó để “tiếp tục tiếp cận” các căn cứ đó theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa hai nước[89].
Dù chưa bao giờ đạt được thoả thuận dàn xếp cho việc tiếp cận này, những nhà hoạch định chính sách Philippin vẫn tiếp tục gắn việc bảo vệ yêu sách đối với Trường Sa của Philippin với cách giải thích của họ về cam kết của Hoa Kỳ theo Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày 3 tháng 3 năm 1992, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng De Villa tuyên bố, Philippin đã bắt đầu một chương trình hiện đại hoá 10 năm để phát triển lực lượng không quân và hải quân của mình. Tuy nhiên, ông nói thêm, dù có sự nỗ lực này, Philippin vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tự phòng thủ chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, đặc biệt là ở Trường Sa và vì vậy, trong trường hợp bị tấn công, hy vọng “Hoa Kỳ... tới giúp đỡ chúng ta trong việc bảo vệ (Trường Sa)... theo các điều khoản của Hiệp ước Phòng thủ chung."[90] Điểm này sau đó đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Raul Manglapus nhắc lại[91].
Các điều khoản liên quan của Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Philippin có nêu như sau :
Điều IV
Mỗi bên công nhận, một cuộc tấn công vũ trang tại khu vực Thái Bình Dương đối với bất cứ Bên nào đều là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của chính họ và tuyên bố, sẽ hành động để giải quyết mối nguy hiểm chung theo trình tự hiến pháp của họ quy định.
Bất kỳ một cuộc tấn công vũ trang nào như vậy và mọi biện pháp được tiến hành do kết quả của việc này, sẽ được thông báo ngay tới Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Các biện pháp này sẽ chấm dứt khi Hội đồng Bảo an áp dụng những biện pháp cần thiết để khôi phục và gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới.
Điều V
Vì mục đích của Điều IV, một cuộc tấn công vũ trang được coi là bao gồm việc tấn công vũ trang vào lãnh thổ chính của bất cứ bên nào, hay vào các lãnh thổ trên các đảo thuộc quyền tài phán của họ trên Thái Bình Dương, hay vào các lực lượng vũ trang, tàu thuyền công cộng và máy bay của họ trên Thái Bình Dương[92].
Những điều trên chứng tỏ, Hoa Kỳ không hề có một cam kết rõ ràng sẽ “bảo vệ” Philippin nếu Trường Sa, hay, thực tế là bất kỳ phần lãnh thổ nào của Philippin, bị một lực lượng thứ ba tấn công. Một hành động như vậy sẽ chỉ được coi là “nguy hiểm” khi Hoa Kỳ cho là như vậy và phản ứng phù hợp sẽ phải tùy thuộc vào việc tuân thủ “các trình tự hiến pháp” của Hoa Kỳ. Một lời tuyên chiến, hay thậm chí là một quyết định cử các đơn vị quân đội để giúp đỡ Philippin, đầu tiên phải có sự nhất trí giữa Tổng thống và Thượng nghị viện Hoa Kỳ về sự đúng đắn của hành động đó. Thứ hai, định nghĩa vùng trong Điều V về nơi mà cuộc tấn công vũ trang như vậy bị coi là nguy hiểm, thì cũng khá mù mờ để chứng minh rằng, vùng này không động chạm tới Trường Sa.
Dù Hoa Kỳ đã công khai tuyên bố rằng, họ phản đối việc sử dụng vũ lực bởi bất cứ bên nào để ủng hộ yêu sách của họ đối với Trường Sa, Hoa Kỳ vẫn chưa chính thức ủng hộ yêu sách của Philippin hay bất cứ bên nào khác. Thay vào đó, Hoa Kỳ gợi ý rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (“ASEAN”) huy động áp lực chính trị để ngăn cản bất cứ quốc gia nào muốn hành động như vậy bởi vì,
“về quần đảo Trường Sa, có một lịch sử về các nghĩa vụ quốc tế, các cam kết [mà Hoa Kỳ] đưa ra và chúng giới hạn chính xác những gì [họ] có thể làm.”[93]
Tuy nhiên, có tin rằng, các nguồn tin “không chính thức” từ Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Manila đã thẳng thừng khẳng định, Hoa Kỳ không có nghĩa vụ giúp Philippin nếu Trường Sa bị tấn công vì Trường Sa là lãnh thổ bị tranh chấp[94].
Những thảo luận trên đây chứng tỏ các yêu sách lịch sử có thể hữu ích như thế nào đối với giới chức địa phương, hay các phân nhóm trong giới chức đó, vì họ dễ dàng vận dụng chúng làm các phương tiện tuyên truyền để tạo nên sự ủng hộ cho các quyết định về chính sách đối ngoại, cụ thể qua việc kêu gọi các tình cảm dân tộc chủ nghĩa. Kết quả của việc thực hiện chiến lược này rất đa dạng. Tại Trung Quốc, nó đã giúp củng cố vững chắc cơ sở sức mạnh trong nước của PLA, trong khi tại Philippin có thể nó đã đánh lừa các nhà hoạch định chính sách, khiến cho họ đưa ra những quy kết vô trách nhiệm và nguy hiểm rằng, bất kể mối quan tâm đã bị giảm sút nhiều đối với Philippin của các nhà chiến lược Hoa Kỳ do việc tháo dỡ các căn cứ quân sự và hải quân ở đó, Hoa Kỳ vẫn sẽ ủng hộ về quân sự cho Philippin để đẩy lùi bất cứ cuộc tấn công nào của lực lượng thứ ba vào phần quần đảo Trường Sa mà Philippin yêu sách. Dẫu sao, rõ ràng những lời kêu gọi về danh nghĩa lịch sử này không thể tạo nên một cơ sở chấp nhận được cho việc giải quyết vấn đề chủ quyền đối với việc tranh chấp quần đảo Trường Sa. Do vậy, nên từ bỏ việc kiểm tra các tài liệu lịch sử để chuyển sang phân tích một cách nghiêm túc hơn hai cơ sở pháp lý khác làm cơ sở ủng hộ các yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
Bài viết đã được trình bày tại Hội nghị Bàn tròn về "Tranh chấp quần đảo Trường Sa" tổ chức tại Trung tâm Pháp luật của trường Đại học tổng hợp Philippin vào ngày 27/1/1993. Bài viết này là một phần của luận án tiến sĩ của tác giả tại trường Đại học Luật Yale. Thành phần tham gia hội nghị là các học giả và tướng cấp cao Philippin.
[1]Xem, Tao Cheng “Tranh chấp đối với các đảo ở Biển Đông”, 10 Tạp chí Luật quốc tế Texas 265(1975); Hungdah Chiu và Choon-ho Park, “Quy chế pháp lý của các quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa)”, 3,Tạp chí Luật quốc tế và Phát triển biển 1(1975); Diane C. Drigot “Mối quan tâm về dầu lửa, một yếu tố trong yêu sách của Philippin và những tranh chấp lãnh thổ trên biển ở Biển Đông”, 8 Luật Quốc tế Yrbk Philippin 39 (1982).
[2]Xem, Peter Polomka, Chính trị biển ở Đông Nam Á (Singapore, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1978); Lee Yong Leng, Đông Nam Á và Luật Biển: Một số ý kiến chính trị về địa lý chính trị các biển vùng Đông Nam Á (Singapore, Nxb. trường Đại học tổng hợp Singapore, 1980); Jorge Coquia, “Phân tích thuyết quốc gia quần đảo trong công ước mới về Luật Biển”, trong cuốn Những bài viết chọn lọc về Luật Biển, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 1 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Miriam Defensor-Santiago, Khái niệm quần đảo trong Luật Biển: Những vấn đề và triển vọng, ấn phẩm của Ban thư ký Uỷ ban Chính phủ về Hiệp ước Luật Biển, chuyên khảo, số 2 (Manila: Nxb. Viện Phát triển Philippin, 1982); Phiphat Tansubkol, ASEAN và Luật Biển (Singapore: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1982); Phiphat Tansubkol, Các quốc gia quần đảo Đông Nam Á: Khái niệm, quá trình phát triển và thực tiễn hiện nay (Honolulu: Viện Nghiên cứu môi trường và chính sách Đông-Tây, 1984); Hội thảo quốc tế về Luật Biển mới ở Đông Nam Á: Những kết quả phát triển và hướng tiếp cận của khu vực, Douglas M. Johnston, và những người khác, biên soạn. (Halifax, Nova Scotia: Chương trình nghiên cứu đại dương Dalhousie, 1985); Kriangsak Kittichaisaree,Luật Biển và hoạnh định ranh giới biển ở Đông Nam Á (Singapore-London-New York: Nxb. trường Đại học tổng hợp Oxford, 1987; Tạo lập ranh giới biển: Các biến động và các vấn đề khu vực, Douglas M. Johnston & Philip M. Saunders, biên soạn. (London-New York: Croom Helm, 1988).
[3]Kittichaisaree, tr.139. Các nguồn tin khác cũng lưu ý rằng, tranh chấp giữa Việt Nam và Indonesia không liên quan đến quyền sở hữu các đảo mà chỉ liên quan đến quyền tài phán đối với vùng nước xung quanh (Douglas M. Johnston & Mark Valencia, Các vấn đề ranh giới biển Thái Bình Dương: Quy chế và giải pháp, Q.16, ấn phẩm về phát triển đại dương (Dordrecht-Boston-London; Nxb. Martinus Nijhoff, 1991), tr.130.
[4] Quần đảo Trường Sa có thể được xác định là gồm các đảo nằm giữa vĩ tuyến 40 và 110 30’B và kinh tuyến 109 30’Đ. Nó trải dài trên khoảng 1.000 km, từ Bắc xuống Nam. Những khoảng cách gần bờ, tính theo cách đo điểm gần nhất bao gồm: 650 km về phía Đông của bờ biển Việt Nam; 750 km về phía Nam của quần đảo Hoàng Sa; 1.000 km từ đảo Hải Nam của Trung Quốc tới điểm tận cùng phía Bắc của quần đảo Trường Sa; 250 km kể từ bờ biển Sabah; 160 km kể từ bờ biển Sarawak của Malaysia và 100 km về phía Tây của đảo Palawan, Philippin. (Xem,Từ điển địa lý, Marwyn Samuels, Cuộc tranh cãi về Biển Đông (New York & London; Methuen, 1982). Tuy nhiên, lưu ý rằng do các đảo ở khu vực này ban đầu là những đảo san hô, do vậy có một quá trình liên tục hình thành đảo đang diễn ra. Ở quần đảo Trường Sa có thể dẫn tới sự hình thành các đảo hay nhóm đảo mới chưa được ghi tên lên bản đồ. Nhằm tránh sự nhầm lẫn khi đề cập đến “đảo Trường Sa” hiện do Việt Nam chiếm giữ và toàn bộ bản thân quần đảo, trong bài viết này sẽ đề cập đến toàn bộ quần đảo là “Spratly archipelago “ (quần đảo Trường Sa) hoặc “Spratlys” (Trường Sa).
Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam yêu sách toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Philippin chủ yếu chỉ yêu sách vùng phía Tây của quần đảo Trường Sa nằm gần nhất với đảo Palawan của họ, nhưng cũng bao gồm hầu hết những đảo lớn của quần đảo này. Malaysia chỉ yêu sách ba đảo mà hiện họ đang chiếm giữ và cả đảo Amboyna Cay (An Bang) do Việt Nam chiếm giữ.
Ngoài năm nước yêu sách nói trên, Brunei cũng đã nêu yêu sách đối với đá Louisa (Luxia), một trong những “bãi phía Nam” của quần đảo Trường Sa, tuy nhiên, nó thường xuyên ngập dưới mặt nước. (Xem, Tuyên bố của Hoàng tử Mohamad Bolkiah, Ngoại trưởng Brunei, với Reuters, ngày 26/1/1992). Có ý kiến cho rằng Brunei “về mặt địa lý có thể được xếp vào loại” có quyền yêu sách như vậy (Johnston & Valencia, tr.59). Tuy nhiên, do thực tế là đá Louisa (Luxia) gần như là hoàn toàn ngập dưới mặt nước khi triều lên, Brunei không duy trì sự có mặt chính thức về quân sự trên quần đảo Trường Sa (United Press Int’l., ngày 9/2/1992).
[5]Việt Nam đã chiếm giữ 25 đảo với căn cứ chính trên đảo Spratly (Trường Sa). Philippin giữ tám đảo với căn cứ trên đảo Thi Tu (“Pagasa”). Trung Quốc giữ tám đảo. Malaysia có ba đảo và đã mở cửa đảo đá Swallow (“Terumbu Layang-Layang”) - (Hoa Lau) làm một khu du lịch. Đài Loan giữ đảo Itu Aba (Ba Bình), đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991, The Christian Science Monitor, ngày 15/7/1991).
[6]Năm 1971, Philippin đổ quân lên sáu đảo thuộc quần đảo Trường Sa sau khi những phản đối về mặt ngoại giao không ngăn trở được sự phát sinh những sự kiện có dính líu đến đụng độ quân sự với hải quân Đài Loan (Xem, Haydee Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với nhóm đảo Trường Sa”, 58, Phil. L.J. 45 [1983]).
[7]Lỗ Chí Kiên, Chính sách của Trung Quốc về những tranh chấp lãnh thổ: Trường hợp các đảo ở Biển Đông (London & New York; Routledge, 1989) tr.146. Quân đội của (Bắc) Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã giành quyền kiểm soát các vị trí của Nam Việt Nam tháng 4/1975.
[8]Các nguồn tin của Trung Quốc cho biết, Hải quân Trung Quốc đã làm đắm một tầu của Việt Nam và làm hư hỏng hai tầu chở hàng gần đảo Sin Cowe (Sinh Tồn) thuộc bãi Union (Cụm Sinh Tồn) trong “Khu vực nguy hiểm” của quần đảo Trường Sa . Việt Nam đưa tin là có ba người bị thương và 74 người bị mất tích sau trận chiến (Thời báo Los Angeles, ngày 17/3/1988; Reuters, ngày 15/3/1988).
[9]Đảo lớn nhất của quần đảo, Itu Aba (Ba Bình) chỉ có 1,2 km (0,75 dặm) chiều dài và vẻn vẹn 336 m (1.100 feet) chiều rộng. Tất cả các đảo quan trọng nhất, bao gồm: Itu Aba (Ba Bình), ThiTu (Thị Tứ), Loai Ta (Loại Ta), Nam Yit (Nam Yết) và đảo Trường Sa đều nằm ở rìa phía Tây của quần đảo. Dấu hiệu phân biệt chính của chúng là sự tồn tại của nước ngọt, và trong trường hợp đảo Itu Aba (Ba Bình) và Trường Sa là có những mỏ phân chim (Samuels, Từ điển Địa lý).
[10]Choon - Ho Park, “Các tranh chấp ở Biển Đông : Ai là chủ sở hữu của các đảo và các nguồn tài nguyên thiên nhiên?,” 1, Tạp chí Luật quốc tế và phát triển biển 27 (1973), tr.37. Xem thêm, Chiu & Park, tr.20.
[11]Công ước về Luật Biển (“LOS”) được ký kết bởi 155 quốc gia khi kết thúc Hội nghị quốc tế lần thứ III về luật biển UNCLOS III quy định tại Điều 122 rằng, một “biển kín hay nửa kín” là một “vùng biển do hai hay nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của hai hay nhiều quốc gia tạo thành.”
[12]Tuyên bố ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (Bắc Mỹ, châu Á - Thái Bình Dương và sự phát triển của luật biển, M. Nordquist & Choon-Ho Park, biên soạn, tập .2 (London-Rome-New York; Ấn phẩm về đại dương, Inc., 1981). Đoạn 5 của Tuyên bố quy định rằng “các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ của Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải của Việt Nam ... đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.” Ở đây là đề cập tới quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa vốn đã được gộp vào các tỉnh đất liền của Việt Nam với mục đích quản lý hành chính trong nước.
[13]Nghị định số 1596 của Tổng thống, ban hành ngày 11/6/1978. Luật về sáp nhập quần đảo Trường Sa vào trong đường cơ sở đang có của Philippin, được biết đến với cái tên là Đạo luật của nghị viện số 206, đã bị lưu lại ở Nghị viện Philippin kể từ khi được Chủ tịch Uỷ ban quan hệ quốc tế đệ trình năm 1987.
[14]Nghị định số 1599 của Tổng thống, cũng ban hành ngày 11/6/1978. Lưu ý, Nghị định số 1596 của Tổng thống, tuyên bố việc sáp nhập phần phía Tây của quần đảo Trường Sa không xác định rõ là có phải quần đảo đã được sáp nhập vào bên trong đường cơ sở đang có của Philippin hay không, như được xác định bởi Đạo luật Cộng hoà số 3046(1961) và 5446 (1968), hay được coi là một quần đảo riêng biệt được đưa vào dưới quyền tài phán của Philippin. Vì Nghị định số 1599 của Tổng thống không xác định rõ là vùng đặc quyền kinh tế được xác định như thế nào, do vậy cũng không rõ là các vùng biển quanh quần đảo Trường Sa sẽ được vạch như thế nào.
[15]Tháng 12/1979, lần đầu tiên Malaysia yêu sách đảo Amboyna Cay (An Bang) ở phía Tây quần đảo Trường Sa và đá Swallow (Hoa Lau) và đá Louisa (Luxia) ở phía Nam quần đảo Trường Sa là một phần thềm lục địa của họ (Samuels, tr.163). Một bản đồ về các vùng nước lãnh thổ của Malaysia phản ánh sự hợp nhất này đã được xuất bản vào ngày 14/4/1980 (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 14/4/1980).
[16]Các báo cáo của thư viện Reuters, ngày 26/2/1992. Ví dụ như, đạo luật của Trung Quốc đã được áp dụng với các đảo Senkaku hay Diaoyutai nằm ở biển Đông Trung Hoa cách Đài Loan 90 hải lý về phía Đông Bắc mà Nhật Bản và Đài Loan cũng yêu sách.
[17]Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 3/3/1992.
[18]Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 23/7/1991.
[20]Thông tấn Pháp, ngày 3/11/1991; Boston Globe, ngày 22/7/1991. Hội nghị Băng Đung là hội nghị tại đó, lần đầu tiên Trung Quốc và Đài Loan đồng ý tham gia những cuộc nói chuyện về vấn đề tương lai của quần đảo Trường Sa (Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991). Trung Quốc đã tẩy chay một cuộc thảo luận không chính thức tương tự về tranh chấp đối với quần đảo Trường Sa do Hiệp hội các nước Đông Nam Á (“ASEAN”) tổ chức tại Bali, Indonesia vào tháng 1/1991 (Dịch vụ thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).
[21]Thời báo Los Angeles, ngày 16/7/1991; Tuần báo Nikkei, ngày 27/7/1991.
[22]Tuyên bố của Wang Yingfan, Vụ trưởng Vụ Châu Á, Bộ Ngoại giao Trung Quốc và trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tham gia Hội nghị Băng Đung, theo thông tin từ Dịch vụ Thông tin Kyodo, ngày 18/7/1991; Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 30/7/1991.
[23] Tháng 4/1988, pháo hạm của Malaysia đã bắt giữ bốn tầu đánh cá của Philippin ngoài khơi đá Comodore (Công Đo), cầm tù 49 dân chài Philippin trên tầu và truy tố họ về tội vi phạm Luật Đánh cá năm 1985 của Malaysia. (Nguồn tin thông tấn quốc tế, ngày 16/9/1988). Mặc dù Toà án Tối cao Malaysia tại Kota Kinabalu, Sabah thấy rằng các tầu này đã đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, Toà đã tuyên bố họ vô tội do nhầm lẫn (Xem, Quyết định của Hon. Raymond Wong, ngày 1/8/1988). Chính phủ Malaysia tuyên bố sẽ kháng cáo quyết định này, nhưng sau khi có đại diện ngoại giao của Bộ Ngoại giao Philippin, đại diện cho những dân chài bị giam giữ cũng như có lời thỉnh cầu của Tổng thống Philippin, Corazon Aquino tới Thủ tướng Malaysia, Mahatir Mohammad, đã không có kháng cáo nào được đệ trình. Những người dân chài đã được thả ra vào tháng 9/1988 sau khi một người đã chết trong khi bị cầm tù.
Tháng 3/1992, Hải quân Philippin đã bắt giữ bẩy dân chài Trung Quốc vì lý do đánh cá tại khu vực cấm ở ngoài khơi đảo Pag-asa (Thị Tứ), đảo lớn nhất mà Philippin chiếm giữ trong quần đảo Trường Sa (Các bản tin của Đài phát thanh nước Anh, ngày 24/3/1992). Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối vụ bắt giữ này, tuyên bố rằng “Không có lý do nào để tranh cãi về việc Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa) và vùng biển xung quanh” (Thông tin kinh tế Nhật Bản, ngày 24/3/1992). Sau “những dàn xếp và hội đàm thân thiện” những dân chài đã được thả ra vào tháng 4/1992 (Reuters, ngày 1/4/1992).
[26]Các quốc gia yêu sách có thể sẽ phải đối mặt với tình cảnh này sớm hơn là họ tưởng. Với một hành động không ngờ, gần đây Trung Quốc đã ký một hợp đồng khai thác dầu lửa, cho phép Công ty Crestone-Energy, một công ty của Mỹ, hoạt động tại một lô 9.700 m2 ở Biển Đông, nơi Việt Nam cũng có yêu sách. Randall Thomson, Chủ tịch Creston tuyên bố rằng, mặc dù công ty đã biết quyền tài phán đối với khu vực này đang bị tranh chấp, nhưng công ty vẫn ký hợp đồng vì Trung Quốc đã bảo đảm họ sẽ sử dụng toàn bộ khả năng hải quân để bảo vệ cho những hoạt động của công ty. (Thời báo New York, ngày 18/6/1992).
[28]Dẫn chứng về tư tưởng này được phản ánh trong những tuyên bố của các vị sau: Ngày 1/9/1991 Reuters đã trích lời của Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia nói rằng, tiền của đổ ra để xây dựng Đá Swallow (Hoa Lau) “không là gì khi so sánh với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và tầm quan trọng kinh tế và chiến lược của các đảo san hô”. Ngày 16/6/1991, Thời báo Los Angeles trích lời của Trung tướng Lisandro Abadia, Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippin rằng “ có những biểu hiện rõ ràng rằng, đấu trường tranh chấp trong tương lai có thể sẽ chuyển sang vùng biển, đặc biệt là những tranh chấp về lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa”; Ngày 16/6/1991, Reuters trích lời của Đại sứ Philippin tại Malaysia, Rodolfo Severino rằng, khó có thể phát triển các nguồn tài nguyên ở quần đảo Trường Sa nếu trước tiên không dàn xếp các tranh chấp trên biển; Ngày 28/11/1989, Tân Hoa Xã đã trích lời của lãnh đạo đảng chiếm đa số trong Nghị viện Philippin, Teofisto Guingona, thúc giục đoàn đại biểu của Philippin đàm phán một hiệp định ranh giới biển với Malaysia để khẳng định “các quyền lãnh thổ” của Philippin.
[29]Lưu ý rằng dù thông cáo chung do các thành viên tham gia đưa ra cuối Hội nghị Băng Đung có nói rằng “bất kỳ tranh chấp tài phán và lãnh thổ nào ở khu vực Biển Đông cũng nên được giải quyết bằng các biện pháp hoà bình thông qua đối thoại và đàm phán.” (Tuần báo Nikkei, ngày 22/7/1991). Nhưng Chủ tịch Hội nghị Băng Đung, Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas đã chỉ ra rằng “nếu [các đại biểu] bắt đầu bằng các yêu sách chủ quyền, [hội nghị] sẽ ngay lập tức đi đến chỗ bế tắc.” (Dịch vụ Thông tấn quốc tế, ngày 19/7/1991).
[31]Lỗ Chí Kiên, tr.167, 194; Chiu & Park, tr.4; Kittichaisaree, tr.137-150; Yorac, “Yêu sách của Philippin đối với quần đảo Trường Sa”; Ted L. McDorman, “Các vấn đề về hoạch định ranh giới biển đặc biệt ở biển Đông Nam Á” 10, Phil. Yrbk. Luật quốc tế 52, 65 (1984). Xem thêm, nói chung, Hiran W.Jayawardene, Chế độ các đảo trong luật quốc tế, Q.15 Các ấn phẩm về phát triển quốc tế (Dordrecht-Boston-London: Nxb. Martinus Nijhoff, 1989). Tuy nhiên, lưu ý đến một xu hướng đối ngược rõ ràng trong những ấn phẩm gần đây, Johnston & Valencia, Các vấn đề biên giới biển.
[32] Tham khảo các yêu sách của “Trung Quốc” về danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa nên được coi là bao gồm của cả Cộng hoà Nhân dân (sau đây được gọi là Trung Quốc) và Đài Loan, được gọi là Cộng hoà Trung Quốc. Sẽ không sai khi khẳng định, phạm vi yêu sách lịch sử của cả hai thực thể này trùng nhau, vì mỗi bên đều yêu sách là người kế thừa toàn bộ các quyền thuộc về Trung Quốc, trước khi nước này trên thực tế bị phân chia năm 1949. Trung Quốc đã không phản đối việc Đài Loan chiếm giữ đảo Itu Aba (Ba Bình) ở quần đảo Trường Sa, chủ yếu vì mãi cho tới năm 1988, quân đồn trú của Đài Loan trên đảo này là sự tồn tại liên tục duy nhất của “Trung Quốc” trên quần đảo.
Nếu trong tương lai, Đài Loan tuyên bố việc tách biệt về mặt pháp lý ra khỏi Trung Quốc, có vẻ do vậy, Đài Loan sẽ phải từ bỏ các yêu sách của mình đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở danh nghĩa lịch sử, và với tư cách là một quốc gia mới, phải dựa trên các cơ sở khác để thủ đắc danh nghĩa như vậy. Do Đài Loan là quốc gia đầu tiên đóng quân trên đảo Itu Aba (Ba Bình) sau Chiến tranh thế giới II, yêu sách mạnh mẽ nhất của họ về quyền sở hữu đối với quần đảo Trường Sa sẽ dựa trên cơ sở việc chiếm hữu đảo lớn nhất trong quần đảo.
Philippin cũng đã cố gắng thiết lập yêu sách của họ đối với quần đảo Trường Sa dựa trên danh nghĩa lịch sử. Biểu hiện sớm nhất sự quan tâm của Philippin đối với quần đảo Trường Sa được ghi nhận vào năm 1947, khi Bộ trưởng Ngoại giao Philippin, Carlos P. Garcia biện hộ rằng, Quần đảo mới phía Nam, thực thể do Nhật Bản thiết lập để quản lý cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1939 và trong suốt cuộc chiến tranh, được chuyển cho Philippin như một bảo đảm về an ninh. Yêu cầu này dựa trên thực tế là, đảo Itu Aba (Ba Bình) đã được sử dụng làm căn cứ để Nhật Bản xâm lược Philippin trong cuộc chiến tranh (Cheng, tr.270, trích Ta Kung Pao [Thượng Hải], ngày 26/1/1947). Ngày 28/7/1947, vài tháng sau tuyên bố này, Philippin đã chấp nhận một đề xuất của Mỹ về việc triệu tập một hội nghị giữa mười một thành viên của Uỷ ban Viễn Đông để soạn thảo một hoà ước với Nhật Bản (Phòng thông tin quốc gia Mỹ, Q.XVIII, Số 426, ngày 31/8/1947, tr.436). Uỷ ban Viễn Đông đã được thành lập để soạn thảo các chính sách, nguyên tắc và tiêu chuẩn buộc Nhật Bản tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Tuyên bố Potsdam khi đầu hàng (Sđd, ngày 24/8/1947, tr.395). Tuy nhiên, tại Hội nghị Hoà bình San Francisco năm 1951 về dự thảo Hoà ước với Nhật Bản, khác với Việt Nam, Philippin đã không đưa ra yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông (Xem, Các ý kiến của Carlos P.Romulo, Bộ trưởng Ngoại gia trong phiên họp toàn thể thứ sáu, Biên bản hội nghị: Hội nghị kết thúc và ký kết hoà ước với Nhật Bản, San Francisco, California, ngày 4-8/9/1951, Phòng xuất bản quốc gia Mỹ, Hội thảo và Tổ chức quốc tế, đợt phát hành II, Viễn Đông ngày 3/12/1951, tr.224-233). Ý kiến của ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã được đưa ra tại phiên họp toàn thể thứ bẩy (Biên bản hội nghị, tr.263; xem thêm, chú thích 108 ở dưới).
Trong khi những hành vi không rõ ràng này khó có thể tạo nên cơ sở cho yêu sách của Philippin về danh nghĩa lịch sử ngang bằng với Trung Quốc hay Việt Nam, Philippin đã ghi nhận một yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với quần đảo Trường Sa khi soạn thảo luật trong nước. Hiến pháp Philippin 1973 và 1987 đều bao gồm định nghĩa “lãnh thổ Philippin” bao gồm những tham chiếu đến “lãnh thổ trên đó [Philippin] có danh nghĩa lịch sử” (Đ.I, Hiến pháp 1973) hay đến “lãnh thổ trên đó Philippine có chủ quyền và quyền tài phán” (Đ.I, Hiến pháp 1987). Điều khoản năm 1973 đầu tiên đề cập đến yêu sách vẫn chưa được giải quyết đối với Sabah, nơi Philippin vẫn đang bảo vệ chống lại Malaysia, kể từ khi Malaysia độc lập năm 1957. Tuy nhiên, với phát kiến năm 1956 của Tomas Cloma về “Các đảo Kalayan” thuộc vùng quần đảo Trường Sa, người Philippin đã mở rộng giải thích của điều khoản này nhằm bao hàm yêu sách của mình đối với cả quần đảo Trường Sa. Theo đó, Nghị định Tổng thống số 1596 ban hành năm 1978 đã khẳng định việc sáp nhập các đảo Kalayaan thành một phần của Philippin trên cơ sở “lịch sử”, và những cơ sở khác.
[33]Tập hợp tài liệu về quan hệ đối ngoại của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Bắc Kinh: Bộ Ngoại giao, 1961), Q.2, tr.32; trích dẫn trong Samuels, tr. 79.
[34]Shao Hsun-Cheng, “Các đảo của Trung Quốc ở Biển Đông”, Nhân dân Trung Hoa, Q.13, tr.27 (1956), trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C; xem thêm Lỗ Chí Kiên, tr. 30.
[35]Lỗ Chí Kiên, các trang 34, 113; cũng được trích dẫn trong Samuels, Phụ lục C. “Xisha” là nói tới quần đảo Hoàng Sa và “Nansha” là nói tới quần đảo Trường Sa.
[36]Bộ Ngoại giao Việt Nam xuất bản Sách Trắng I ngày 27/9/1979 và Sách Trắng II ngày 18/1/1982. “Hoàng Sa” là đề cập đến quần đảo Paracels và "Trường Sa" là đề cập đến quần đảo Spratlys.
[37]Sách Trắng I & II; cũng xem Samuels, Phụ lục C. “Biển Đông” là đề cập tới Biển Đông.
[38]Xem, “Phủ biên tạp lục” (Tạp ký về vùng biên) vào khoảng năm 1784, trích trong Sách Trắng II.
[39]Xem, “Đại Nam thực lục chính biên” (“Biên niên sử chính thức của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1830 và “Đại Nam nhất thống đồ” (“Bản đồ chi tiết của nước Đại Nam”) vào khoảng năm 1838, sử dụng một phần thông tin do một phái đoàn được cử tới nhóm đảo dưới thời vua Minh Mệnh thu thập được, trích dẫn trong Sách Trắng II.
[44]Sđd., tr.36. Tuy nhiên Samuels lưu ý rằng, cái tên “Ch’ien - li shih - t’ang” thường là đề cập đến bãi ngầm Macclesfield và rằng, chỉ vì khoảng cách rộng giữa hai nhóm đảo mô tả trong bản đồ đi kèm nên dẫn đến kết luận đó là đề cập tới quần đảo Trường Sa. Xem thêm, Chiu & Park, tr.10.
[45]Tuy nhiên Samuels, tr.38; Chiu & Park, tr.10, đã trích dẫn một ấn phẩm của nhà Minh thế kỷ 16 mang tên “Hai - yu” hay “Trên biển” sử dụng tên “Wan - li chang - sha” để chỉ quần đảo Trường Sa.
[47]Quần đảo Trường Sa đã được thừa nhận là thường bị nhầm lẫn với quần đảo Hoàng Sa trong tài liệu lịch sử của Trung Quốc. Xem, Chiu & Park, tr.10.
[48]Riêng theo tiêu chuẩn về khoảng cách, một quần đảo này tách biệt với một quần đảo khác khi chúng cách nhau khoảng 230 hải lý. Chiu & Park, tr.5.
[49]Trung Quốc yêu sách rằng nhóm đảo mà Việt Nam xác định là “Trường Sa”, đề cập đến nhóm đảo nằm gần bờ biển phía Nam của Việt Nam, chứ không phải là quần đảo Trường Sa (Tuyên bố của bộ Ngoại giao năm 1980, chú thích 35 ở trên.). Philippin lập luận rằng, “Trường Sa” mà Việt Nam yêu sách chỉ là đề cập đến nhóm gồm 7 đảo, trong đó đảo Trường Sa là lớn nhất và khẳng định rằng, yêu sách của Philippin bao gồm tất cả các đảo khác ở bên ngoài đơn vị địa lý đó. (Xem chú thích 193 ở dưới).
[50]Samuels, tr.40; Tài liệu lịch sử sớm nhất của phương Tây có phân biệt hai quần đảo là kết quả của cuộc khảo sát do đoàn thám hiểm của Kergiaou - Locmaria thực hiện (1887 - 1888) cùng thời điểm với Công ước Pháp - Thanh 1887 về phân định biên giới Đông Dương (Xem Chú thích 96 ở trên), “Yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Phụ trương đặc biệt, Bộ Ngoại giao Việt Nam.
[51]Douglas M. Johnston, Lý thuyết và lịch sử của việc tạo lập biên giới biển (Kingston & Montreal: Nxb. trường Đại học tổng hợp McGill - Queen, 1998) tr.5.
[53]Đảo Palmas, 22 AJIL 867 (1928); Chủ quyền đối với đảo Clipperton, 26 AJIL 390 (1931); Quy chế pháp lý của Đông Greenland, Hudson, Các báo cáo của Tòa án quốc tế, Q.III, tr.148 (1933); Nhóm đảo Minquiers và Ecrehos, 1953 Các báo cáo của Toà án Pháp lý quốc tế (ICJ) 47.
[64]D.R. Sar Desai, Việt Nam: Những thử thách và nỗi khổ cực của một dân tộc (Long Beach, California: Nxb. Long Beach, 1988) tr.26 - 27.
[65]Chuyến đi của vua Gia Long đến quần đảo Hoàng Sa đã được một tác giả người Pháp đương thời ghi lại, người này là cố vấn cho vua An Nam. Xem, J.B. Chaigneau, “Le Memoire sur cochinchine” được in trong “Bulletin des amis du Vieux Huej” 1820, trích trong Sách Trắng II. Xem thêm, Chiu & Park, tr.7.
[66]Hiệp ước Hoà bình và Hữu nghị giữa Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, ngày 5/6/1862 ký tại Sài gòn, Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 1. Quyển XVII, tr.169.
[67]Hiệp ước Hoà bình và Liên minh, ký tại Sài Gòn, ngày 15/3/1874 (Martens, Nouveau Recueil General de Traites, lần 2. Quyển II), tr.206.
[68] Điều 2 và 3, Hiệp ước ngày 11/5/1884, ký tại Thiên Tân, 163 CTS 498.
[75]Trật tự truyền thống của Trung Quốc là theo thứ bậc chứ không phải ngang bằng. Nói chung, mối quan hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và láng giềng, dựa trên cơ sở quan hệ triều cống, theo đó Trung Quốc nhận được sự đền đáp cho việc họ bảo hộ cho các nước láng giềng của mình khi họ còn cường thịnh. Xem, Tzou, B., tr.23. Khi sự ưu việt về chính trị và quân sự của họ lụi tàn vào thế kỷ 19, việc tiếp tục triều cống chủ yếu chỉ còn là hình thức.
[76]Choon - Ho Park, tr.33; Samuels, tr.66; Chiu & Park, tr.6.
Một số báo Hồng Công gần đây dẫn lời các nhà phân tích Trung Quốc nhận định tình hình an ninh khu vực Biển Đông xuất hiện xu thế ngày càng xấu đi. Vấn đề quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông và sự can dự ngày càng công khai của Mỹ vào vấn đề này sẽ khiến Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức thực sự.
Một số báo Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn hối” và “Đông phương” dẫn lời các nhà phân tích Trung Quốc nhận định tình hình an ninh khu vực Biển Đông xuất hiện xu thế ngày càng xấu đi. Điều này không chỉ do một số nước Đông Nam Á tranh chấp chủ quyền biển đảo tại khu vực Biển Đông với Trung Quốc như Việt Nam, Malaixia, Inđônêxia tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, mà quan trọng hơn là do Việt Nam mưu cầu quốc tế hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông, lôi kéo các nước ASEAN tham gia đàm phán với Trung Quốc và Mỹ đang từng bước công khai hóa chính sách can dự vào tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông.
Theo các nhà phân tích Trung Quốc, trong ba nguyên nhân này, nguyên nhân các nước hữu quan xung quanh Biển Đông tăng cường sức mạnh quân sự hướng ra biển không đáng lo ngại. Bởi vì, bất kể nhìn từ phương diện nào (trang bị vũ khí hay năng lực tác chiến), sức mạnh quân sự của các nước này cho dù được tăng cường ở mức độ lớn, cũng không thể sánh với Trung Quốc. Tuy nhiên, vấn đề Việt Nam thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông và sự can dự ngày càng công khai của Mỹ vào vấn đề này sẽ khiến Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức thực sự. Trước thực trạng này, Trung Quốc cần có đối sách phù hợp.
Để làm thất bại sách lược của Việt Nam, thứ nhất, đối với ý đồ của Việt Nam thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc một mặt có thể áp dụng biện pháp gây sức ép thích hợp để các nước ASEAN bác bỏ sách lược của Việt Nam. Mấu chốt để Trung Quốc áp dụng biện pháp này chính là Campuchia và Mianma, hai nước cơ bản không có lợi ích tại Biển Đông và rõ ràng Việt Nam khó thuyết phục hai nước này đứng về phía mình để đàm phán với Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông. Hơn thế nữa, Campuchia và Mianma là hai nước có quan hệ thực tế nhất với Trung Quốc trong số các nước ASEAN, cũng là hai nước mà Trung Quốc có ảnh hưởng nhiều nhất. Thậm chí có lúc ảnh hưởng của Trung Quốc còn mang tính quyết định đến sự sống còn của chính quyền hai nước này. Bản thân Chính phủ Campuchia hiện nay và Chính quyền quân sự Mianma cũng đều coi Trung Quốc là một sự hậu thuẫn để củng cố và duy trì quyền chấp chính. Nhất là Chính quyền Mianma, nếu không có sự hậu thuẫn của Trung Quốc sẽ rất khó tồn tại. Ngoài ra, Trung Quốc có thể sử dụng lợi ích kinh tế làm “mồi nhử” để kéo Campuchia và Mianma về phía mình. Trong từng trường hợp cụ thể, có thể cùng với các nước này đạt được các thảo thuận song phương trên phương diện kinh tế, bao gồm cả viện trợ kinh tế không hoàn lại, để gắn lợi ích kinh tế của Campuchia và Mianma với Trung Quốc. Từ đó, tranh thủ sự ủng hộ của hai nước này trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông vốn không liên quan đến họ.
Thứ hai, Trung Quốc có thể lợi dụng nguyên tắc đồng thuận của ASEAN. Khi đã thuyết phục, thậm chí “kiểm soát” được Campuchia và Mianma, Trung Quốc đứng sau hai nước này để “giật dây” phản đối sách lược quốc tế hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông của Việt Nam. Như vậy, chỉ cần gián tiếp can thiệp, Trung Quốc cũng có thể dễ dàng làm thất bại sách lược lôi kéo các nước ASEAN của Việt Nam, bất chấp Việt Nam hiện đang là Chủ tịch ASEAN luân phiên. Ngoài ra, Trung Quốc hiện đã trở thành đối tác mậu dịch lớn nhất của ASEAN, chính vì vậy Trung Quốc có thể lợi dụng những lợi ích kinh tế để gây sức ép, răn đe ASEAN. Tuy nhiên, phương thức này cần phải được áp dụng thận trọng… Bởi vì bản thân Trung Quốc cũng có lợi ích kinh tế rất lớn từ ASEAN, nhất là cơ chế “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN” vừa cơ bản đi vào vận hành toàn diện hồi tháng 1/2010.
Thứ ba, về giải quyết vấn đề chủ quyền Biển Đông, nội bộ Trung Quốc có hai chủ trương chính. Một là tiếp tục áp dụng phương thức đàm phán hòa bình để giải quyết, điều này xuất phát từ tư duy Trung Quốc “hòa bình trỗi dậy”. Hai là phủ nhận, cho rằng kết quả đàm phán hữu quan chỉ khiến Trung Quốc không thể thu hồi được lãnh hải, do vậy cần áp dụng hành động vũ lực để giải quyết. Thế nhưng, các chuyên gia phân tích chiến lược của Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh hiện nay, cả hai chủ trương này đều không thể áp dụng đơn độc. Bởi vì, chỉ có Trung Quốc đàm phán hòa bình, còn các nước hữu quan khác vẫn tiếp tục thúc đẩy khai thác tài nguyên Biển Đông. Còn nếu dùng hành động quân sự, chắc chắn Mỹ sẽ can dự với lý do bảo đảm an ninh khu vực. Một khi Mỹ can dự, lập tức Nhật Bản và Ôxtrâylia sẽ theo Mỹ. Nếu như để Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, thậm chí là cả NATO tham gia giao chiến với Trung Quốc, thất bại là kết quả tất yếu đối với Trung Quốc. Cách làm này là nguy hiểm, không thể áp dụng.
Để ngăn chặn Mỹ can dự, giới chuyên gia phân tích Trung Quốc nêu rõ tính phức tạp của vấn đề Biển Đông không chỉ giới hạn ở tầng nấc khu vực, mà Mỹ đang dần công khai can dự vào vấn đề này. Biểu hiện cụ thể là cách đây chưa lâu, Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ đã tổ chức một cuộc điều trần về vấn đề Biển Đông. Đây chính là thông điệp cho thấy Mỹ đang “từ cánh gà bước ra sân khấu” trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông và cũng chứng tỏ Mỹ đang dần công khai hóa việc can dự vào vấn đề này. Theo các chuyên gia phân tích Trung Quốc, để có được biện pháp giải quyết tối ưu, trước hết Trung Quốc cần hiểu rõ: Mỹ sở dĩ gây phiền hà cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, mục đích chủ yếu là kiềm chế Trung Quốc “hòa bình trỗi dậy”. Trên thực tế, biện pháp kiềm chế Trung Quốc của Mỹ không chỉ hạn chế ở vấn đề Biển Đông, mà trong các vấn đề khác như vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương và ngoại thương... Mỹ đều tìm cách kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy.
Hiểu được bản chất của vấn đề, Trung Quốc sẽ có được biện pháp đối phó phù hợp. Về cơ bản Trung Quốc có thể áp dụng một số biện pháp.
Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc cần tuyên truyền để quốc dân hiểu rõ rằng nếu tranh chấp Biển Đông chỉ hạn chế ở mức song phương và khu vực thì chủ trương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác” dễ đạt được nhận thức chung. Còn trong bối cảnh có thế lực hùng mạnh bên ngoài can thiệp sâu, tranh chấp hữu quan sẽ chỉ phức tạp thêm chứ không đạt được bất kỳ phương thức giải quyết nào. Cần làm cho các nước ASEAN hữu quan hiểu rằng chính sách can dự sâu của Mỹ vào vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng lợi ích của Trung Quốc, mà còn là thảm họa đối với các nước trực tiếp tranh chấp khác.
Thứ hai, Trung Quốc có thể thông qua kênh trao đổi ngoại giao hoặc trao đổi chuyên ngành với các nước ASEAN để nhấn mạnh rằng lập trường của Philíppin trong vấn đề quy thuộc chủ quyền đảo Hoàng Nham (Scarborough), hành động khiêu khích bắt giữ ngư dân Trung Quốc của Inđônêxia và những hành động mở rộng thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam tại Biển Đông... đều chỉ khiến tình hình an ninh Biển Đông trở nên xấu hơn.
Thứ ba, áp dụng biện pháp cực đoan như giúp Bắc Triều Tiên thực hiện chương trình phát triển hạt nhân. Hiện nay, Mỹ coi việc ngăn chặn phổ biến hạt nhân và tấn công chủ nghĩa khủng bố là trọng điểm ưu tiên trong thực hiện mục tiêu chiến lược đối ngoại, đồng thời yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ. Đây cũng chính là nhược điểm của Mỹ mà Trung Quốc có thể lợi dụng để “mặc cả” hoặc đạt được thỏa thuận “ngầm” với Mỹ trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Nói cụ thể hơn, trong vấn đề này, Trung Quốc không chỉ không yêu cầu Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình phát triển hạt nhân, mà càng cần giúp đỡ Bắc Triều Tiên thực hiện chương trình phát triển hạt nhân. Trong một chừng mực nhất định, đây có thể coi là sách lược tối ưu để Trung Quốc ngăn chặn Mỹ can dự vào tranh chấp chủ quyền Biển Đông./.{jcomments on}
Tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc số ra ngày 16/3 đăng bài: “Việc xây dựng đảo du lịch quốc tế Hải Nam và tranh chấp Nam Hải (Biển Đông)”. Ngày 4/1, Chính phủ Trung Quốc công bố “Một số ý kiến về phát triển đảo du lịch quốc tế Biển Đông”, trong đó nhấn mạnh “tích cực, ổn thỏa thúc đẩy việc khai thác, mở cửa du lịch Hoàng Sa, phát triển có trật tự du lịch các hải đảo không người”. Đây vốn là một quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế khu vực của TQ, là một việc tốt tạo phúc cho khu vực và thậm chí là thế giới, nhưng lại gây chú ý cho nhiều báo chí nước ngoài, thậm chí đã tạo nên sóng gió ngoại giao.
Một số báo chí của Mỹ, Nhật và các nước ĐNÁ bình luận, kế hoạch phát triển Hải Nam của TQ có mục đích chính trị và quân sự. VN là nước phản ứng quyết liệt nhất. Ngày 4/1, NFN/BNG/VN bày tỏ, TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN, yêu cầu phía TQ dừng ngay kế hoạch này. Ngày 5/1, BNG/TQ nhấn mạnh, TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ trước đến nay, Phương Tây, VN, Malai, PLP có quan tâm khác thường đối với các hoạt động của TQ ở Biển Đông, nhất cử nhất động đều khiến họ căng thẳng thần kinh, các hoạt động quân sự thông thường, thậm chí là chiến lược phát triển khu vực của TQ đều được họ liên hệ với vấn đề an ninh và chính trị quốc tế. Mỹ đặc biệt nhạy cảm và quan tâm đến khu vực này, điều máy bay, tàu ngầm, tàu đo đạc đến đây để trinh sát thường xuyên.
VN liên tục tiến hành các hoạt động ở khu vực. Hiện nay, VN đang đẩy mạnh chiến lược phát triển biển, quyết tâm thực hiện giấc mơ “cường quốc biển” của mình. VN cho rằng Biển Đông gắn liền với sự tồn vong của dân tộc và đất nước, là khu vực trọng điểm để phát triển đất nước trong tương lai. Năm 2007, VN đề ra chiến lược phát triển biển, nhấn mạnh “huyết mạch kinh tế của đất nước là biển, không có biển sẽ không có tiền đồ quốc gia”, đề ra mục tiêu chiến lược đến năm 2020 xây dựng VN trở thành cường quốc biển trong khu vực, hy vọng “làm giàu từ biển”, thực hiện giấc mộng cường quốc. Hiện nay, VN đã cơ bản giải quyết xong tranh chấp lãnh thổ với Lào, CPC, TL, biên giới trên đất liền với TQ cũng đã phân định xong, nhưng phân định biển giữa TQ và VN vẫn chưa được thực hiện. Ngày 30/6/2004, qua nhiều năm đàm phán, Hiệp định phân định VBB Việt - Trung và Hiệp định hợp tác nghề cá trong VBB đã chính thức có hiệu lực. Hiện nay, khu vực dàn xếp quá độ đã hết hạn, cùng với việc tài nguyên nghề cá đang bị suy giảm, mâu thuẫn giữa hai bên về nghề cá ngày càng gay gắt. Ngoài vấn đề VBB, vấn đề trên biển giữa hai bên còn có Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển phụ cận, mà những vấn đề này mới là mâu thuẫn chính. VN cho rằng tranh chấp trên biển là trở ngại lớn nhất cản trở VN thực hiện chiến lược biển. Cùng với việc VN áp dụng sách lược mới đối với tranh chấp các đảo ở Biển Đông, vấn đề Biển Đông đang đứng trước cục diện ngày càng phức tạp. Những năm gần đây, VN có các hoạt động sau đối với vấn đề Biển Đông:
1. Tăng cường tuyên truyền chủ quyền: VN năm 2009 đã long trọng tổ chức “Lễ bổ nhiệm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa” khiến cộng đồng quốc tế rất quan tâm; tiến hành các hoạt động thị sát, thăm hỏi để tuyên bố chủ quyền; phát động đấu tranh bằng dư luận quần chúng như tổ chức thi tìm hiểu biển đảo, xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về Biển Đông, đăng các bài của chuyên gia có tiếng, dựa vào báo chí để khuấy động…; tăng cường ý thức của người dân đối với “chủ quyền” của Hoàng Sa và Trường Sa; tổ chức học giả tiến hành nghiên cứu các phương án giải quyết các tranh chấp trên biển, viết và đăng các báo cáo nghiên cứu, hiến kế sách cho Chính phủ về các vấn đề Biển Đông. Năm 2009, VN còn trình LHQ báo cáo về xác định ranh giới ngoài thềm lục địa, tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
2. Quốc tế hóa vấn đề tranh chấp: VN có ý đồ lấy 10 đấu 1, liên kết toàn bộ ASEAN đối phó với TQ. Tháng 11/2009, VN tổ chức Hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông, có ý đồ “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông. Ngoài ra, VN còn tăng cường hợp tác quân sự với các nước lớn như Mỹ, Nhật, Ấn Độ.
3. Tăng cường lực lượng hải quân: VN đã tiến hành xây dựng một quân cảng lớn ở Hải Phòng, chỉ sau cảng Cam Ranh, liên tục mua tàu hộ vệ, tàu cao tốc, tên lửa, máy bay. Tháng 12/2009, VN và Nga đã ký hợp đồng 1,8 tỷ USD mua 6 tàu ngầm lớp “Kilo”. Ngoài ra, VN còn đề ra kế hoạch nâng cấp các trang thiết bị phòng vệ biển để bảo vệ tốt hơn tàu cá của ngư dân.
4. Đẩy nhanh tiến độ khai thác dầu khí: VN đã chia hàng trăm lô dầu khí ở khu vực Biển Đông đang tranh chấp, những năm gần đây liên tục ký với Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức các hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí. Ngoài ra, VN còn thường xuyên bắt các tàu cá của TQ, tổ chức dân đến du lịch ở Trường Sa, xây dựng các công trình vĩnh cửu trên đảo, thành lập các đơn vị hành chính, di dân đến các đảo, xây dựng các mạng thông tin điện thoại di động trên đảo… Đây đều là những hành động cụ thể nhằm tăng cường chiếm lĩnh thực tế.
Môi trường xung quanh ổn định hài hòa có lợi cho tất cả. Hiện nay, VN và TQ có hợp tác chặt chẽ trên rất nhiều lĩnh vực, hợp tác TQ và ASEAN không ngừng đi vào chiều sâu, khu vực mậu dịch tự do TQ-ASEAN đã chính thức khởi động, tiến trình nhất thể hóa kinh tế khu vực Đông Á đang được đẩy nhanh. Một số nước ĐNÁ như CPC, Myanmar, TL không có lợi ích gì ở Biển Đông. Có chuyên gia cho rằng, khả năng Việt - Trung tiến hành đàm phán được về Hoàng Sa, Trường Sa là rất nhỏ, do chủ trương của hai bên về vấn đề này có khoảng cách rất lớn. TQ nhấn mạnh vùng biển trong “đường chín đoạn” là vùng nước truyền thống của TQ, nhưng VN kiên trì Hoàng Sa, Trường Sa là của VN. Vấn đề này cũng khác hẳn với vấn đề biên giới trên đất liền, không thể tham khảo được. Phân định biên giới trên đất liền và ở VBB là vấn đề lịch sử để lại, từ triều đại nhà Thanh đã tiến hành phân định, còn Biển Đông xưa nay là vùng biển chủ quyền của TQ. Vấn đề Biển Đông chỉ sau khi có “Công ước của LHQ về luật biển” năm 1982, tranh chấp mới gay gắt. Hơn nữa, vấn đề trên biển phức tạp hơn nhiều so với vấn đề trên đất liền, mặc dù đã có “Công ước của LHQ về luật biển”, nhưng đó chỉ là tinh thần và nguyên tắc, thực tế thực hiện không chỉ xem xét đến vấn đề kéo dài của thềm lục địa, mà còn rất nhiều vấn đề hiện thực như nghề cá, dầu khí.
Ngày 12/8/2009, Thứ trưởng NG VN Hồ Xuân Sơn và Thứ trưởng NG TQ Vũ Đại Vĩ đã tiến hành đàm phán Trưởng đoàn cấp Chính phủ hai nước tại Hà Nội, trao đổi về vấn đề trên biển, hai bên “đồng ý căn cứ các nguyên tắc và chế độ pháp lý đã được Luật quốc tế xác nhận, bao gồm “Công ước của LHQ về luật biển”, tìm kiếm các biện pháp giải quyết cơ bản, lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được”. Năm 2010 là 60 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, cũng là Năm hữu nghị đã được Lãnh đạo hai nước xác định, thái độ của hai bên là năm tạo dựng không khí hữu nghị. Nhưng cũng có nhà quan sát lo lắng, do cư dân mạng có tình cảm dân tộc chủ nghĩa ở hai nước gia tăng sức ép lên Chính phủ, do đó Chính phủ hai nước không thể không tìm kiếm các biện pháp giải quyết tranh chấp này. Học giả người Singapore Amos cho rằng, nguy hiểm của vấn đề Biển Đông là sự xét đoán sai lầm của các bên liên quan sẽ dẫn đến xung đột quân sự.
TQ hy vọng, Hải Nam sẽ phát triển ổn định trong tương lai và thu hút được nhiều du khách cũng như đầu tư từ bên ngoài. Ngoài ra, vấn đề chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, cải cách chế độ xã hội trong nước đều đòi hỏi TQ phải kiến tạo môi trường xung quanh ổn định, hài hòa. TQ thực hiện mục tiêu này cũng có lợi cho VN và các nước ASEAN, do đó hai bên cần lấy đại cục thúc đẩy quan hệ hữu nghị Việt - Trung làm đại cục, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa cục diện căng thẳng, thậm chí xấu đi.
Sau đây là bài viết nhan đề: “Biển Đông: Những điều hoang đường và sự thật của đường lưỡi bò” của tướng Daniel Schaeffer, nguyên Tùy viên quốc phòng Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan, hiện là Tư vấn cao cấp của chuyên mục “Tiêu điểm quốc tế”, tạp chí Diplomatie, Pháp.
Vén bức rèm che đường lưỡi bò hoang đường.
Vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay là phải biết cách làm cho những đòi hỏi ẩn chứa phía sau đường lưỡi bò phù hợp với việc nước này tham gia Công ước về luật biển với những đường ranh giới của các khu độc quyền và các thềm lục địa.
Các cuộc hội kiến của các tác giả tại Việt Nam và tại Trung Quốc cho thấy Chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ đề cập một cách chính thức đến đường lưỡi bò như một ranh giới bất khả xâm phạm đối với chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Đây là một trong những nhân tố cơ bản đầu tiên cần nhấn mạnh. Đúng là việc duy trì biểu tượng của đường này trên các bản đồ do Bắc Kinh xuất bản tiếp tục gây ra tình trạng mập mờ về thực chất của những yêu sách của Trung Quốc, một tình trạng kéo dài xuất phát từ thực tế là hầu hết người dân Trung Quốc đều cho rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi” và vì thế không việc gì phải bàn đi cãi lại.
Đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng năm 1947, trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải do nhà nước xuất bản) dưới dạng một đường nét liền được vẽ bằng tay. Cần phải có những nhiên cứu cụ thể hơn để xác định được nguồn gốc chính xác của đường này. Trong thực thế, không tìm thấy bất kỳ một tọa độ nào của những điểm khác để có thể xác định vị trí chính xác của đường lưỡi bò.
Sau khi xuất hiện, đường lưỡi bò tiếp tục thay đổi thành một đường gián đoạn 11 nét, rồi 9 nét bắt đầu từ những năm 1950, tức sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời. Ba giai đoạn như vậy hợp thành một nhân tố quan trọng để làm cơ sở xem xét các cuộc tranh luận về sau. Những tấm bản đồ về Biển Đông và về đường lưỡi bò mà chúng ta có thể tìm thấy đều được phát hành sau năm 1950. Trên những bản đồ này có ghi những chứ cái Trung Quốc được đơn giản hóa (chứ không có các chữ cái Trung Quốc truyền thống mà những người dân tộc chủ nghĩa vẫn còn sử dụng) hoặc những chữ cái Latinh được viết theo cách phát âm (dạng viết được nhà nước Trung Hoa nhân dân chấp nhận, khác với những hệ thống chuyển biên mà Trung Hoa dân quốc đã sử dụng trước đó). Trong những điều kiện như vậy, có thể hiểu rằng một đường ranh giới như vậy không phải là sự thể hiện chính thức ý trí áp đặt chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông. Đúng hơn đó là đường xác định phạm vi lãnh hải mà toàn bộ phía trong của nó là đối tượng của các cuộc thảo luận mà Trung Quốc muốn tiến hành để xác định chủ quyền trước hết là của Trung Quốc, sau đó mới là của các quốc gia khác, đối với những vùng đất nổi và đôi khi cả những vùng đất chìm như trường hợp của bãi Macclesfild. Đó như thể là giới hạn mà Trung Quốc đặt ra đối với “khu vực tranh chấp”.
Nếu phân tích kỹ thì có thể thấy được nhiều chi tiết. Thứ nhất là những đường cơ sở mà Trung Quốc xác định xung quanh quần đảo Hoàng Sa. Phải nói rằng Trung Quốc diễn giải một cách quá lạm dụng Phần IV của Công ước về luật biển khi gán cho Hoàng Sa quy chế “Quốc gia quần đảo”. Thực tế, Hoàng Sa không thể có quy chế này vì không thỏa mãn các tiêu chuẩn được quy định trong Điều 46 của Công ước về luật biển, theo đó để có quy chế “Nhà nước quần đảo” thì lãnh thỏ đó phải độc lập, chỉ bao gồm các hòn đảo và hoàn toàn không có mối liên hệ với lục địa. Kể cả khi Hoàng Sa thỏa mãn 2 tiêu chuẩn cuối cùng thì nó cũng không thỏa mãn tiêu chuẩn đầu tiên, tiêu chuẩn về sự độc lập, vì đang là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Về logic tổng thể, cần áp dụng quy chế của các đảo đối với Hoàng Sa, tùy thuộc vào việc tại đây con người có thể sinh sống hay không như quy định trong Phần VIII của Công ước về luật biển.
Ngoài ra, chúng ta thấy rằng các đường cơ sở được áp dụng đối với Hoàng Sa không trùng với đường lưỡi bò và ngược lại. Nếu Trung Quốc không muốn mâu thuẫn với chính mình, họ không nên đặt ra những đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa. Khi câu hỏi về mâu thuẫn này được đặt ra, người ta chỉ có được những câu trả lời mập mờ thay cho những lời giải thích có tính thuyết phục.
Chi tiết thứ hai đó là việc Trung Quốc đưa ra định nghĩa về lãnh hải của họ trong Luật ngày 25/2/1992. Trong luật này, Biển Đông không được nêu như là “biển lãnh thổ”. Chỉ có các quần đảo – một trong những cấu thành của Biển Đông – được nêu một cách dứt khoát là lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc. Như vậy, các khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc cũng cần được xác định trên cơ sở của luật này.
Chi tiết thứ ba nảy sinh từ những lời phát biểu kỳ quặc của vị đại diện của một trong những viện nghiên cứu mà tác giả đã gặp khi vị này cho ràng đường lưỡi bò không phải do thể chế cộng sản tạo ra mà là sự kế thừa của thể chế dân tộc chủ nghĩa trước đây. Ta có thể hiểu: Việc đường lưỡi bò tồn tại như bây giờ không phải là lỗi của chính quyền Bắc Kinh. Nói một cách nghiêm túc hơn: Dù diễn đạt khó hiểu đi chăng nữa thì vị quan chức này cũng cho thấy rằng điều mà Trung Quốc đòi hỏi trước tiên là các bên tranh chấp phải công nhận rằng hiện đang có tranh chấp tổng thể và quan trọng hơn là họ cong nhận rằng hiện đang tồn tại những khu vực tranh chấp và thực sự đang tồn tại sự tranh chấp đối với những vùng nêu trên. Điều đó có nghĩa là:
- Trung Quốc muốn Việt Nam công nhận rằng không có trnah chấp đối với Hoàng Sa – điều mà Hà Nội không chịu. Điều mà Trung Quốc muốn đạt được ở đây là hai nước chấp nhận thực trạng được áp đặt bằng quân sự giữa hai nước trong những năm 1947-1974 và rằng vấn đề Hoàng Sa từ nay trở đi vĩnh viễn là vấn đề đã quyết với phần thắng thuộc về Trung Quốc. Nếu Việt Nam có những tư liệu đích thực có giá trị pháp lý để chứng minh rằng các vua Annam thực sự đã thực thi chủ quyền của họ trên những hòn đảo này vào thời kỳ tiền thực dân (chủ quyền này sau đó được thực dân Pháp đảm nhiệm) thì lý lẽ của Trung Quốc về chủ quyền đối với những hòn đảo này sẽ yếu hơn nhiều so với những lý lẽ của Việt Nam, kể cả khi Trung Quốc cho rằng chủ quyền của họ được thực thi đối với Biển Đông từ thời triều Song (960 – 1279). Ít nhất đó cũng là điều mà trẻ em Trung Quốc học trong các cuốn sách lịch sử của họ. Vấn đề cung cấp thêm những bằng chứng đáng tin cậy (chứ không phải cứ to mồm kêu loa “đã từ lâu các ngư dân Trung Quốc thường xuyên đến các vùng biển này”) là điểm quan trọng hiện nay và đây đúng ra phải là nhân tố cho phép xác định chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa.
- Trung Quốc lẩn tránh việc thảo luận thực tại của vấn đề chủ quyền đối với bãi Macclesfield, khu vực đang là "vấn đề đặc biệt" như đánh giá của một trong các chuyên gia của Trung Quốc về luật biển. Thực tế, dù không đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào của Công ước về luật biển về mặt thực tại lãnh thổ trong trường hợp như thế này vì Công ước chỉ chế định những bãi nổi hay những mỏm ngầm nhìn thấy được (trong điều 6 của Công ước có định nghĩa các bãi đá ngầm mặc dù định nghĩa này còn chưa rõ ràng), việc khẳng định chủ quyền đối với khu vực này là điều khó đối với mọi quốc gia.
- Trung Quốc có thể sẽ tỏ ra sẵn sàng thảo luận về Trường Sa để phục vụ chiến lược lừa dối để thế giới tưởng rằng Trung Quốc cũng có khả năng nhân nhượng hoặc vì Trung Quốc không có đủ các nhân tố khẳng định chủ quyền chắc chắn đối với quần đảo này. Các diễn giải như vậy càng được củng cố hơn khi Viện Nghiên cứu về Biển Đông đóng tại Haikou, rất có uy tín đối với Chính quyền Trung ương Trung Quốc, có một bộ phận chuyên nghiên cứu về TS, trong khi về các quần đảo khác thì không có bộ phận nghiên cứu chuyên trách.
Điều hoang đường khó dẹp bỏ
Tình hình nêu trên cho thấy rằng vẫn chưa thể loại bỏ đường lưỡi bò khỏi các bản đồ Trung Quốc ngày nay. Thực ra, các chuyên gia về luật biển của Trung Quốc vẫn chưa thành công trong việc thuyết phục người dân Trung Quốc, đặc biệt là dư luận xã hội, về sự cần thiết phải làm cho những đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc phù hợp với các điều khoản của Luật biển để những đòi hòi này trở nên tin cậy. Đại diện cho khuynh hướng "tôn trọng pháp lý" này (hãy tạm gọi như thế) là giáo sư Lihai, người được bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án quốc tế về luật biển tại Hambourg tháng 8/1996, nhưng đã chết vào tháng 10/2000 khi chưa kết thúc nhiệm kỳ. Trường phái này đã được một số quan chức Trung Quốc, cả quân sự và dân sự, ủng hộ, nhưng tất cả các cơ quan nghiên cứu thì không đồng tình. Tuy nhiên, cần thấy rằng trước đó giáo sư Zhao trong một thời gian dài cũng đã cố sức bảo vệ cho giả thiết rằng khu vực được giới hạn bởi đường lưỡi bò hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.
Ngày nay, khuynh hướng “tôn trọng pháp lý” còn đang phải đối mặt với hai trường phái truyền thống. Trường phái thứ nhất khẳng định rằng Biển Đông là biển lãnh thổ Trung Quốc, với lý lẽ là đường lưỡi bò đã có trước Công ước về luật biển, là di sản của lịch sử. Trường phái thứ hai cho rằng thể chế của Biển Đông là thể chế của một biển lịch sử như nêu trong các sách giáo khoa lịch sử, mặc dù điều này không được kiểm chứng.
Kết luận
Đường lưỡi bò có thể còn tồn tại một thời gian dài nữa mặc dù nó đang trở nên mờ nhạt trong tâm trí của một số người Trung Quốc muốn đất nước mình là một thành viên tin cậy của Công ước về luật biển. Những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông thật khó có thể biện minh. Việc từ bỏ hoàn toàn đường lưỡi bò sẽ khắc phục hoàn toàn được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, làm cho các cuộc đàm phán giữa các nước trong khu vực trở nên khách quan hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc cùng khai thác tài nguyên tại một số khu vực ít ỏi không tranh chấp. Cùng một số diễn biến gần đây trong khu vực, điều này có thể sẽ là một triển vọng thực tế đáng khích lệ. Việc Trung Quốc và Nhật Bản ký kết thỏa thuận cùng khai thác mỏ khí Shirabaka (theo cách gọi của Nhật Bản) cho phép hy vọng về một sự tiến triển trong tư duy của Trung Quốc liên quan đến những đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh đối với Biển Đông, thậm chí có thể một ngày nào đó Trung Quốc sẽ quyết định bỏ hẳn đường lưỡi bò trong các bản đồ của họ./.