21 - 5 - 2018 | 23:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển

Email In PDF.

Trật tự mà UNCLOS 1982  tạo ra là sự cân bằng khéo léo giữa một bên là quyền của quốc gia ven biển và bên kia là quyền tự do của tất cả các quốc gia khác. Quyền tự do hàng hải tiếp tục là thành tố cơ bản của quyền tự do trên biển, tuy nhiên các quyền tự do này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.

 

Tóm tắt

Nguyên tắc tự do biển cả được khai sinh từ đầu thế kỷ XVII. Thuyết tự do biển cả (mare liberum) vẫn chiếm ưu thế và không bị thách thức cho đến tận thế kỷ 20. Trật tự biển cũ mà bốn Công ước năm 1958 đặt ra, vì nhiều lý do, đã sụp đổ và được thay thế bởi các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Trật tự hiện nay là sự cân bằng khéo léo giữa một bên là quyền của quốc gia ven biển và bên kia là quyền tự do của tất cả các quốc gia khác. Quyền tự do hàng hải tiếp tục là thành tố cơ bản của quyền tự do trên biển, tuy nhiên các quyền tự do này đang ngày càng suy giảm trong những năm gần đây.

Phần I. Giới thiệu

Trước khi đề cập đến quy chế pháp lý của các vùng biển và sự suy giảm các quyền tự do trên biển, tác giả muốn nêu một số ý giới thiệu khái quát liên quan đến chủ đề này.

Chúng ta cần nhớ rằng trước khi nhân loại vươn ra biển, quyền tự do trên không gian bao la này đã từng bị thách thức bởi sự thống trị đất liền. Một số nguyên tắc chính của luật biển được hình thành từ sự giằng co giữa hai trường phái đối lập - sau này còn được gọi là thuyết "tự do biển cả” (mare liberum) và "kiếm soát biển cả” (mare clausum). Thuyết "tự do biển cả" được xây dựng và củng cố vào năm 1609 bởi luật gia nổi tiếng gốc Hà Lan Hugo Grotius - người chịu ảnh hưởng của các nhà thần học Tây Ban Nha và có lẽ cả từ truyền thống xa xưa của Châu Á về quyền tự do không bị cản trở của tàu buôn và thương mại biển. Thuyết "kiểm soát biển cả" với quan điểm trái ngược được xây dựng bởi nhà lập pháp người Anh John Selden vào năm 1635. Trường phái “tự do biển cả” của Grotius dần chiếm được sự ủng hộ của số đông và trở thành một nguyên tắc của luật tập quán quốc tế.

Lợi thế vẫn nghiêng về thuyết "tự do biển cả" cho đến tận thế kỷ XX khi thuyết này bắt đầu bị thách thức. Nguyên nhân đến từ sự nhận thức ngày càng tăng về nguồn tài nguyên khổng lồ và tiềm năng kinh tế lớn lao của các vùng biển; lo ngại về những thiệt hại cho nguồn cá ven bờ do các đoàn đánh bắt xa bờ gây ra và nguy cơ ô nhiễm cũng như chất thải từ các tàu vận chuyển hàng hóa độc hại. Người ta dần bước vào một tiến trình chuyển đổi luật biển từ cái được gọi là "luật lưu chuyển" sang "luật về lãnh thổ và chiếm hữu". Trật tự trước đây của các vùng biển, như được quy định trong bốn Công ước Geneva năm 1958 và được phản ánh trong luật tập quán quốc tế, đã sụp đổ trước sức ép của ba nhân tố: tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự thất bại của luật cũ trong việc giải quyết thỏa đáng quan ngại của các quốc gia ven biển trong sử dụng tài nguyên biển và sự thay đổi cơ cấu của cộng đồng quốc tế với ngày càng nhiều các quốc gia đang phát triển. Luật biển hiện đại được thể hiện  trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)[1], tuy đã ghi nhận nhiều thay đổi đáng kể có lợi cho các quốc gia ven biển song vẫn cố gắng cân bằng khéo léo giữa quyền của các quốc gia ven biển và quyền tự do của tất cả các quốc gia khác, vì thế không sai khi gọi Công ước này là một "bản Hiến pháp của các đại dương"[2].

Phần II. Quy chế pháp lý của các vùng biển

UNCLOS được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc: tự do biển cả, chủ quyền của các quốc gia ven biển và di sản chung của nhân loại. Nguyên tắc tự do biển cả nhằm mục đích đảm bảo duy trì các quyền sử dụng biển của tất cả các quốc gia trong các lĩnh vực: hàng hải, hàng không, đặt cáp ngầm và ống dẫn, xây dựng đảo nhân tạo, đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển. Nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia ven biển là căn cứ cho việc mở rộng quyền tài phán quốc gia ra các vùng biển. Và nguyên tắc di sản chung của nhân loại nhằm thúc đẩy các lợi ích chung của loài người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

UNCLOS 1982 chia không gian biển thành vùng với mức độ khác nhau về quyền tài phán quốc gia - nội thủy, lãnh hải, vùng nước quần đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia - bao gồm biển cả và "Vùng", tức đáy biển, đại dương vùng đất dưới đáy biển nằm ngoài ranh giới tài phán quốc gia. Nhóm thứ nhất còn có thể chia nhỏ thành các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia - bao gồm nội thủy, lãnh hải và vùng nước quần đảo và các vùng biển nơi quốc gia ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán có giới hạn - bao gồm vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Khi nhắc đến quy chế pháp của các vùng biển, câu hỏi đầu tiên cần giải quyết là làm sao xác định được giới hạn của chúng. Ranh giới ngoài của lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) đều được đo từ đường cơ sở, và vùng nước nằm phía trong đường cơ sở là nội thủy. UNCLOS phân biệt giữa đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng. Điều 5 quy định rằng, trừ khi được quy định khác bởi Công ước, "đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc bờ biển như được thể hiện trên hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận"[3]. Theo Điều 7 – điều khoản chủ yếu dựa trên phán quyết năm 1951 của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ Ngư trường Anh-Na Uy, một quốc gia ven biển được sử dụng đường cơ sở thẳng "ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm, hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc bờ biển"[4]. Ngoài ra, còn có những quy định cụ thể về xác định đường cơ sở cho các vịnh, cửa sông, công trình cảng, bãi lúc chìm lúc nổi, đảo và đá.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng "tuyến các đường cơ sở thẳng không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thủy"[5]. Mặc dù UNCLOS xem việc sử dụng đường cơ sở thẳng chỉ được giới hạn trong những hoàn cảnh địa lý bất thường và ICJ trong vụ Qatar-Bahrain năm 2001 đã tuyên bố một cách rõ ràng rằng phương pháp đường cơ sở thẳng phù hợp với Công ước "phải được áp dụng một cách hạn chế"[6], trên thực tế nhiều quốc gia đã vẽ đường này trên toàn bộ hoặc một phần bờ biển của mình. Hệ quả thực tế của việc áp dụng đường cơ sở thẳng này là vùng biển nơi quốc gia ven biển được hưởng các mức độ khác nhau của quyền tài phán quốc gia được nới rộng ra về hướng biển cả thay vì ngược lại và vùng biển nội thủy được hưởng cũng lớn hơn.

Quy chế pháp lý của nội thủy chủ yếu được dựa trên luật tập quán và điều ước song chưa được pháp điển hóa trong UNCLOS 1982 dù Công ước có đề cập đến vùng biển này trong một số điều khoản. Điều 8(2) của UNCLOS quy định rằng quyền qua lại vô hại cũng áp dụng với các vùng nước trước đó chưa phải nội thuỷ, nhưng trở thành nội thuỷ khi đường cơ sở thẳng được áp dụng. Không nghi ngờ gì về việc quốc gia có chủ quyền đầy đủ đối với nội thủy và các quốc gia khác không có quyền tiến hành các hoạt động biển trong những vùng biển này trừ khi được quy định cụ thể bởi luật tập quán hay điều ước. Quan điểm phổ biến hiện nay là luật tập quán quốc tế không cho tàu thuyền nước ngoài quyền tự do cập cảng. Ngoại trừ một ngoại lệ chung là các tàu gặp nạn sẽ có quyền tránh nạn trong cảng hoặc trong nội thủy của nước khác khác nhằm bảo vệ mạng sống con người. Quyền này đã được ghi nhận trong Thỏa thuận của Tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO) năm 2009 về Các biện pháp của quốc gia có cảng biển nhằm ngăn chặn, cản trở và loại bỏ việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU)[7] và trong Quy định năm 2008 của Liên minh Châu Âu về việc đánh bắt cá IUU[8]. Trong vụ "ARA Libertad" giữa Argentina và Ghana năm 2012, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đã nêu rõ: “tàu chiến chỉ được hưởng quyền miễn trừ trong nội thủy "trên cơ sở phù hợp với luật quốc tế chung"[9].

Điều 3 của UNCLOS trao cho các quốc gia ven biển quyền thiết lập một vùng lãnh hải với chiều rộng tối đa 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong giới hạn đó, về nguyên tắc các quốc gia ven biển được quyền tự do thực thi luật lệ và quy định việc sử dụng và khai thác tài nguyên. Tuy nhiên các luật và quy định đó không được áp dụng đối với việc thiết kế, xây dựng, vận hành và trang thiết bị của tàu thuyền nước ngoài, trừ các trường hợp phù hợp với các quy tắc và tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi. Quyền "qua lại vô hại" trong lãnh hải - được định nghĩa là việc đi qua "không làm phương hại đến hòa bình, trật tự và an ninh của quốc gia ven biển"[10] - từ lâu đã được hình thành như một phần của luật tập quán quốc tế và đã được nhắc lại trong Điều 17 của UNCLOS và được áp dụng cho tàu thuyền của tất cả các quốc gia, dù là có biển hay không có biển. Tuy nhiên, quyền này không áp dụng cho hoạt động bay.

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Đại sứ. Tiến sỹ. Helmut Tuerk, nguyên Thẩm phán và Phó Chủ tịch Tòa án Luật Biển quốc tế, Áo. Bài viết được trình bày tại Hội thảo Các vấn đề Biển và Công ước Liên Hợp Quốc về  Luật biển (UCNLOS): Chia sẻ cách Tiếp cận của Châu Âu và Châu Á đối với Tranh chấp Lãnh Thổ do Học viện Ngoại giao tổ chức với sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu.



[1] Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, ngày 10/12/1982, xem tại www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994.

[2] Phát biểu của Chủ tịch Hội nghị Luật biển Quốc tế lần thứ III của Liên Hợp Quốc (UNCLOS III) tại thời điểm ký kết Công ước Luật biển http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/koh_english.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016.

[3] Điều 5, UNCLOS.

[4] Điều 7(1), UNCLOS.

[5] Điều 7(2), UNCLOS.

[6] Vụ kiện giữa Qatar và Bahrain về Phân định biên giới trên biển (Qatar v. Bahrain) [2001] ICJ Rep 103, đoạn 212.

[7] Thỏa thuận về Các biện pháp của quốc gia cảng biển nhằm ngăn chặn, cản trở và loại bỏ việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), 25/11/2009, Điều 10. Thỏa thuận này hiện chưa có hiệu lực. Xem tại ftp://ftp.fao.org/docrep/fao/meeting/018/k6339e.pdf, truy cập lần cuối ngày 10/5/2016.

[8] Quy định số 1005/2008 ngày 29/8/2008 của Liên minh Châu Âu về việc Xây dựng cơ chế cộng đồng đề ngăn chặn, kiềm chế và xóa bỏ đánh bắt cá IUU, OJ L286, 29/10/2008, 1.

[9] Vụ kiện‘Ara Libertad’ giữa Argentina và Ghana Case (Phán quyết về biện pháp tạm thời) [2012], đoạn 95 <https://www.itlos.org/fileadmin/itlos/documents/cases/case_no.20/C20_Order_15.12.2012.corr.pdf>.

[10] UNCLOS, Điều 19(1).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

Một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Họ sẽ không thể tự do tiến hành hoạt động ở những nơi mà họ đang can dự ở Trường Sa.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7062 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin