20 - 5 - 2019 | 22:18
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Email In PDF.

Mặc dù có nhiều phân tích cho rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn các lực lượng phi dân sự trong các cuộc đụng độ, đối đầu trên biển. Tuy nhiên, bài viết này lại đưa ra những phân tích và dự đoạn một xu hướng khác hoàn toàn.

 

Việc mở rộng của Trung Quốc tại các vùng biển Đông Á có sự hỗ trợ lớn của các lực lượng không thuộc hải quân PLA. Các tổ chức này cũng hỗ trợ Cảnh sát biển Trung Quốc nhằm đạt được các mục tiêu, nhưng tránh để xảy ra rủi ro xung đột quân sự, duy trì uy tín, và ngăn các cường quốc bên ngoài có hành động gây hấn vũ trang. Hai trong số các cơ quan hàng hải hoàn toàn phù hợp với mô hình này, đó là Cục Hải giám (CMS) và Cục Ngư chính Trung Quốc (FLE). Với đội tàu dân sự được trang bị bằng các vòi rồng hoặc các vũ khí hạng nhẹ, CMS và FLE có thể giúp Bắc Kinh theo đuổi yêu sách biển một cách mạnh mẽ, trong khi tránh được rủi ro và cái giá phải trả khi sử dụng chiến thuật “ngoại giao pháo hạm” truyền thống.

Tư duy trên trái ngược với việc sử dụng các cơ quan chấp pháp hàng hải như Cảnh sát Biển (CMP), dù lực lượng này có năng lực hoạt động rộng khắp trên 3 triệu km vuông biển do Trung Quốc yêu sách. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn giải pháp đặt lực lượng này nằm ngoài các khu vực tranh chấp nhạy cảm. Nhất là khi Cảnh sát Biển Trung Quốc đang bị xem như một tổ chức quân sự, và có thể gây bất lợi cho chiến lược tranh chấp biển được Bắc Kinh theo đuổi.

Kể từ năm 2013, giả thuyết này đã bị thay đổi khi giới lãnh đạo Trung Quốc triển khai tái cấu trúc lại hệ thống chấp pháp biển vốn phân mảnh, bất cập, và từng được gọi với cái tên “Ngũ Long trị hải”. Cuộc cải cách nhằm “hợp nhất” bốn tổ chức chấp pháp biển Trung Quốc, gồm ba cơ quan nêu trên, cộng với Cục Phòng chống Buôn lậu biển, thuộc Tổng cục Hải quan (GAC) thành một tổ chức mới với tên gọi “Lực lượng Bảo vệ Bờ biển” Trung Quốc.

Trong khi thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức diễn ra chậm chạm, nhưng rõ ràng những cơ quan này được trao quyền nhiều hơn để có thể đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong các hoạt động dọc theo các giới tuyến biển của Trung Quốc. Điều này phản ánh một sự thay đổi tinh vi, nhưng đáng kể trong chính sách, tác động tiềm năng với các hành vi của Trung Quốc và Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của họ.

Sự già cỗi của “những con Rồng” không nanh vuốt

Một trong những động lực chính đằng sau việc phát triển, sử dụng sức mạnh biển của Trung Quốc thời gian qua là nhu cầu bảo vệ và thúc đẩy vị thế của nước này trong các tranh chấp biển. Ngoài một số tranh chấp liên quan tới yêu sách chủ quyền đối với các đảo ngoài khơi, bên cạnh đó là việc Trung Quốc đòi hỏi “các quyền” ít được làm rõ khác, như quyền sử dụng và quản lý đại dương. Để thực hiện các mục tiêu này, Trung Quốc ưa thích cách tiếp cận sử dụng lực lượng thực thi pháp luật hàng hải để giải quyết tranh chấp, cộng với sự hỗ trợ từ các nhân tố thuộc phạm trù sức mạnh quốc gia thay cho nhiệm vụ của hải quân. 

Trung Quốc đã sử dụng lực lượng thực thi pháp luật hàng hải để bảo vệ chủ quyền, quyền lợi biển của nước này kể từ thập niên1980. Cụ thể, như trong việc đảm bảo đối tác nước ngoài hoạt động trong vùng biển của Trung Quốc phải tuân thủ việc chấp hành luật bảo vệ môi trường, hay giám sát hoạt động của các tàu thuyền quân sự nước ngoài, và chủ yếu tại các khu vực biển có tranh chấp.

Trong thập niên 1990, có thể chính Cảnh sát biển (CMP) là lực lượng đã trực tiếp đóng góp cho chiến dịch mở rộng biên giới kiểm soát địa lý và ảnh hưởng của Trung Quốc. Cuối năm 1994, Ngư chính Trung Quốc (FLE) đã thầm lặng đi đầu trong nỗ lực chiếm bãi cạn Vành Khăn. Năm 2000, Trung Quốc bắt đầu triển khai xây dựng một hệ thống lực lượng chấp pháp tuần tra xa bờ nhằm thể hiện, cũng như thực thi yêu sách với các vùng nước tranh chấp ở Hoàng Hải, Hoa Đông, và Biển Đông, gồm cả quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, phải tới thời điểm từ giữa năm 2006 tới năm 2008, các tổ chức này của Trung Quốc mới hiện diện liên tục, thường xuyên tại các vùng nước yêu sách. Những nỗ lực này được dẫn dắt bởi lực lượng Hải giám Trung Quốc (CMS). Một loạt các cuộc va chạm, xung đột chính giữa Trung Quốc với các bên xảy ra tại các khu vực tranh chấp từ năm 2006 tới năm 2012 đều có sự tham gia của lực lượng Hải giám hoặc Ngư chính, được triển khai bởi các nhóm dân sự không rõ danh tính, hoặc các tàu trang bị vũ khí hạng nhẹ.

Trên giấy tờ, các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Trung Quốc đều có chung nhiệm vụ và khả năng hoạt động trong toàn bộ vùng nước yêu sách. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Trung Quốc không cho phép họ thực hiện việc này. Do đó, một cơ quan dân sự khác của Trung Quốc là Cục Hải sự (MSA) đôi khi được triển khai tới các điểm phát sinh sự vụ tranh chấp. Tuy nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan này có vẻ thuộc phạm trù chính trị, thiết lập các kênh hợp tác quốc tế, hoặc ngoại giao bảo vệ bờ biển.

Một cơ quan thực thi pháp luật xa bờ quan trọng khác của Trung Quốc là Cảnh sát Biển (CMP). Tổ chức này không xác định rõ tên trong tiếng Anh, nhưng thực chất là một bộ phận cấu thành của “lực lượng vũ trang” Trung Quốc. Cơ quan này có nhiệm vụ pháp lý rõ ràng là tham gia duy trì an ninh tại các vùng biển yêu sách của Trung Quốc, gồm cả  khu vực có tranh chấp. Tư duy cho rằng, thủy thủ dân sự, đặc biệt là ngư dân Trung Quốc phải đối mặt với rủi ro liên quan tới tính mạng, tài sản khi họ hoạt động tại khu vực quần đảo Trường Sa có thể đã là nhu cầu hiện diện của lực lượng Cảnh sát Biển. Trong khoảng đầu năm 2007, đội tàu của Cảnh sát Biển Trung Quốc còn nhỏ bé hơn của cơ quan Hải giám hay Ngư chính, và hoạt động của tổ chức này cũng rất thiếu trật tự. Có bằng chứng cho thấy, tổ chức Cảnh sát Biển đã tìm cách hiện diện trên tuyến đấu tranh đầu vì sự ưu ái của các lãnh đạo Đảng và chiến thắng của Trung Quốc.

Tổ chức, Cấu trúc Lực lượng, và Nhiệm vụ của Cảnh sát Biển Trung Quốc

 Cảnh sát Biển Trung Quốc không phải là một cơ quan độc lập. Tổ chức này là cấu thành đa năng thuộc lực lượng Công an Biên phòng, và còn là một bộ phận thuộc Lực lượng Vũ Cảnh Trung Quốc (Cảnh sát Vũ trang). Mỗi tỉnh ven biển hoặc thành phố cấp tỉnh đều có một Tổng đội Biên phòng, trong đó sẽ có ít nhất một Chi đội của Cảnh sát Biển, cùng một số đại đội hỗn hợp. Hoạt động của Lực lượng Cảnh sát Biển được quy định theo Luật quốc gia và địa phương, nhưng họ cũng nhận mệnh lệnh thi hành trực tiếp từ Bộ Công An Trung Quốc. Trong quá trình Trung Quốc tiến hành cải cách các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, riêng lực lượng Cảnh sát Biển được xác nhận có tới hai mươi Chi đội, với tổng quân số hơn 10,000 người.

Cảnh sát biển là lực lượng thực thi pháp luật hàng hải Trung Quốc hoạt động thường trực. Biên chế của tổ chức này được chia thành cấp bậc sĩ quan và chiến sĩ, với trang phục tương tự của nhiều lực lượng trong PLA. Đầu vào quân số của lực lượng này được tuyển chọn từ ba nguồn chính gồm: (i) Các học viện của lực lượng Cảnh sát Vũ trang, trong đó có Học viện Cảnh sát Hàng hải Trung Quốc đóng tại Ninh Ba; (ii) Tuyển dụng trực tiếp từ sinh viên tốt nghiệp đủ tiêu chuẩn của các trường đại học dân sự Trung Quốc; và (iii) Lực lượng lính nghĩa vụ. Những người mới vào sẽ qua trải qua quá trình huấn luyện cơ bản giống như của lực lượng Cảnh sát Vũ trang Trung Quốc.

Trước khi cải cách Lực lượng Bảo vệ Bờ biển, Cảnh sát Biển Trung Quốc sở hữu tới hàng trăm tàu thuyền, hầu hết được trang bị vũ khí. Trong đó có hơn 20 tàu thuộc lớp 618B, trọng vượt 600 ngàn tấn và được trang bị các súng máy có cỡ nòng 30mm. Ngoài ra, cơ quan này cũng sở hữu 2 tàu thuộc loại hộ tống hạm thế hệ cũ lớp 053H, được chuyển đổi từ các tàu hải quân Trung Quốc hồi tháng 12/2006. Trong đầu năm 2007, Chi đội Cảnh sát Biển Thượng hải còn đưa vào sử dụng một tàu có tải trọng 1,500 tấn. Trong khi tàu của hai cơ quan Hải giám và Ngư chính được coi là tàu dân sự, nhưng tàu Cảnh sát Biển Trung Quốc được định dạng là tàu chiến, do nó được đóng theo các tiêu chuẩn cao hơn vốn dành cho quân đội.

Xuất phát từ quy định hạn chế của giới lãnh đạo, các tàu của lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc trước đây ít khi hoạt động xa bờ, hoặc tiếp cận các thực thể địa lý tranh chấp, ngoại trừ khu vực Hoàng Sa.

Trong một số vụ việc có tính ngoại lệ, như hè năm 2006 khi Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) tiến hành hoạt động thăm dò địa chất tại khu vực phía Nam quần đảo Hoàng Sa, tại các vùng nước mà Việt Nam cũng yêu sách. Lãnh đạo Trung Quốc đã thông qua kế hoạch sử dụng Lực lượng Cảnh sát Biển nhằm bảo vệ các hoạt động thăm dò trước phản ứng của Việt Nam. Cuối cùng, các chi đội cơ động của Cảnh sát Biển Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, và Phúc Kiến đã được lựa chọn để thực hiện kế hoạch mang mật danh “Tác nghiệp Nam Hải”, trong đó huy động 12 tàu và 560 binh sĩ tham gia. Do các tàu được huy động có lượng giãn nước dưới 400 tấn, nên Cảnh sát Biển Trung Quốc đã thuê 8 tàu dân sự có tải trọng lớn hơn để thực hiện nhiệm vụ này. Sau đó trong các ngày từ 01 tới 31/6/2006, Cảnh sát Biển Trung Quốc đã chặn các đợt cản phá của tàu chấp pháp Việt Nam để CNPC hoàn thành đợt thăm dò, không xảy ra thiệt hại tài sản hoặc tính mạng.

Sự thể hiện thành công trong nhiệm vụ bảo vệ này đánh dấu bước khởi đầu và cũng là kết thúc trong hoạt động bảo vệ chủ quyền chính của lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc. Trong tháng 06/2007, Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc tiếp tục quay lại vùng nước tranh chấp cho vòng khảo sát địa chất tiếp theo. Nhưng lần này CNPC được tháp tùng bởi các tàu không có vũ trang lớn hơn thuộc lực lượng Hải giám Trung Quốc. Hoạt động này đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt của Việt Nam. Như vậy, hoạt động bảo vệ, hộ tống của Cảnh sát Biển cho các chiến dịch thăm dò dầu khí của Trung Quốc tại vùng nước tranh chấp có vẻ đã được thay thế bởi cơ quan Hải Giám. 

Cải cách Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Trung Quốc

Hệ thống các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải bị phân tán đã ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý của Trung Quốc đối với các vùng nước, hoạt động bảo vệ và thúc đẩy yêu sách biển của nước này. Các cơ quan chấp pháp biển Trung Quốc khác nhau thường ít chia sẻ thông tin, thiếu phối hợp, đầu tư dư thừa, thậm chí cạnh tranh nhằm giành ảnh hưởng, tài nguyên, và danh tiếng.

Lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã nhận thấy yêu cầu cải cách đối với lực lượng chấp pháp biển của họ, các thảo luận cũng kéo dài hàng năm trời sau đó. Thời điểm năm 2005, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo từng cố gắng hợp nhất hoạt động của các cơ quan chấp pháp Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ nhưng thất bại. Tới đầu năm 2013, Tập Cận Bình dẫn đầu thế hệ Uỷ viên Bộ chính trị mới quyết định triển khai cải cách từ trên xuống dưới. Do đó, Tập Cận Bình đã trực tiếp điều hành Tiểu tổ Bảo vệ Quyền và Lợi ích Hàng hải, cơ quan được thành lập từ năm 2012 với mục đích định hình, phối hợp chính sách trong việc xử lý các tranh chấp biển. Tập cũng thấy rõ hệ quả của tình trạng phân tán, nên cam kết một cách tiếp cận trực tiếp, cứng rắn hơn nhằm theo đuổi các yêu sách biển. Nhận thức được mục tiêu và sức mạnh của Tập, các rào cản quan liêu trước đây đã bị gạt bỏ.

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Ryan Martison là phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc (CMSI), Học viện Hải chiến Hoa Kỳ. Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Andrew Chubb, Peter Dutton, Andrew rickson, and Brian Waidelich vì đã giúp tác giả phát triển báo cáo này. Tác giả xin nhận mọi sai sót và thiếu sót nếu có. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không thể hiện bất cứ quan điểm, chính sách nào của Hải quân Mỹ hay các tổ chức khác của chính phủ Mỹ. Bài viết được đăng trên CMSI.

Linh Phan (dịch)

Dương Đăng (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6219 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin