22 - 4 - 2018 | 13:59
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Email In PDF.

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

 

Tóm tắt

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển (CBM) nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (LOSC) và Các Quy định Quốc tế về Ngăn ngừa Xung độ trên Biển 1972 (COLREG) là các hiệp định đa phương đưa ra các nghĩa vụ ràng buộc pháp lý đối với tất cả các quốc gia. Quy tắc Chạm trán Bất ngờ trên biển 2014 (CUES) thiết lập các quy định cụ thể hơn rất nhiều về nhiệm vụ bảo đảm an toàn khi chạm trán trên biển, nhưng hiệp định này không mang tính ràng buộc. Năm 2014 và 2015, hai cường quốc lớn là Mỹ và Trung Quốc đã ký  hiệp định không ràng buộc là Biên bản Ghi nhớ (MOU) về các Quy tắc Hành xử Đảm bảo An toàn khi Chạm trán trên Không và trên Biển. Bài viết này kết luận rằng, những công cụ không ràng buộc đó khó tăng cường được an toàn hay đảm bảo an toàn trên biển, và ở một số khía cạnh nào đó, chúng còn có thể làm xói mòn an toàn trên biển.

Từ khóa

Biển Đông - tự do hàng hải - các biện pháp xây dựng lòng tin - ASEAN

Giới thiệu

Bài viết này đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) nhằm đảm bảo tự do và an toàn trên biển ở Biển Đông. Các báo cáo từ các tàu chính phủ và dân sự của Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia về các vụ đâm tàu hay các hoạt động chủ ý gây nguy hiểm đã khiến tình hình khu vực căng thẳng.[1] Kể từ cuối những năm 1990, tàu chiến, tàu dân sự và máy bay quân sự Trung Quốc, đặc biệt rất hay va chạm với các quốc gia láng giềng, cũng như với Mỹ và Ấn Độ do xung đột về tầm nhìn chiến lược cũng như về các quyền tài phán trên biển. Bài viết này phân tích nội dung và hiệu quả các thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng chính trị thông qua việc áp dụng các cơ chế hiện có và phát triển các quy tắc mới để kiểm soát va chạm ở Biển Đông.

Công ước về Các Quy định Quốc tế Ngăn ngừa va chạm trên Biển (COLREG)[2] và Quy tắc Chám trán Bất ngờ trên Biển 2014 (CUES)[3] đặt ra nền tảng chính thức cho đảm bảo an toàn khi chạm trán trên biển ờ Biển Đông. COLREG ràng buộc về mặt pháp lý, và được áp dụng cho cả tàu chiến và tàu thương mại. Tuy nhiên, CUES lại không phải là công cụ mang tính ràng buộc và chỉ được áp dụng đối với tàu hải quân, không áp dụng cho tàu chấp pháp biển hay tàu thương mại. Các công cụ đa phương này được bổ sung bởi ba hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc vào các năm 2014 và 2015 với mục đích là giảm nguy cơ va chạm giữa lực lượng không quân và hải quân của hai nước.[4] Mặc dù MOU song phương không hạn chế đối với những va chạm ở Biển Đông, hầu hết những va chạm nguy hiểm giữa lực lượng hai nước lại xảy ra tại khu vực này.[5]

Sự pha trộn giữa các công cụ ràng buộc và không ràng buộc tạo ra khuôn khổ quản lý hòa bình những va chạm ở Biển Đông. Bài viết đánh giá sự phát triển và tiềm năng hiệu quả của các công cụ này. Cho đến hiện tại, việc tuân thủ và phù hợp với các quy định và quy tắc được nêu ra trong các CBM không đồng đều khi Trung Quốc thể hiện nước này sẵn sàng vi phạm các chuẩn mực quốc tế để đạt được các lợi ích của riêng mình ở khu vực.

Bối cảnh Chính trị - Quân sự

Sau Thế chiến thứ 2, có rất ít vụ va chạm thực sự trên biển xuất phát từ tranh chấp đối với các thực thể ở Biển Đông. Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam.[6] Ở thời điểm đó, Trung Quốc khẳng định rằng mình có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bãi Trung Sa (Macclesfield Bank) và Quần đảo Đông Sa (Pratas Islands).[7] Hai quốc gia lại có xung đột ở Trường Sa vào năm 1988.[8]

Năm 2009, Trung Quốc tiến thêm một bước về yêu sách đối với Biển Đông khi gửi Công hàm cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng nước phụ cận và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước phụ cận cũng như đáy biển và tầng đất dưới đáy”.[9] Trong công hàm, Trung Quốc đã đính kèm tấm bản đồ yêu sách Đường Chín đoạn. Năm 2013, Philippines khởi xướng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Phần XV của LOSC đối với đường chín đoạn của Trung Quốc cũng như các yêu sách biển liên quan.[10]

Căng thẳng khu vực leo thang trong suốt thời gian 2014 - 2015 khi Trung Quốc tiến hành trên quy mô lớn các hoạt động “cải tạo” san hô và “lãnh thổ” đáy biển, biến một loạt đá, thực thể nửa nổi nửa chìm thành các đảo nhân tạo lớn, trong số đó có những đảo nhân tạo còn được xây dựng thêm cảng biển và đường băng.[11] Những tranh chấp trên biển không mấy nguy hại trong suốt những năm 1990 đã trở thành nguyên nhân gây bất ổn khu vực. Tòa trọng tài Trung Quốc - Philippines đã ra phán quyết vào tháng 7/2016, theo đó không công nhận Đường Chín đoạn, nhưng Trung Quốc đã bác bỏ phán quyết.[12] Khi triển vọng giải quyết tranh chấp dường như xa vời hơn bao giờ hết, các quốc gia bắt đầu tập trung nhiều hơn vào các biện pháp giảm căng thẳng và ngăn ngừa xung đột công khai thay vì những thỏa thuận lớn nhằm giải quyết những tranh chấp cơ bản.

Các biện pháp quản lý được được nêu trong các thỏa thuận áp dụng tại một môi trường biển khu vực sôi động và ngày càng bất ổn. Ở Biển Đông, đang diễn ra sự thay đổi lớn trong các mối quan hệ chính trị thể hiện từ Delhi cho tới Washington. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, và chính xác hơn là sự quyết đoán của Trung Quốc ở trên biển, đánh dấu sự xác lập lại cán cân sức mạnh ở Đông Á và là bản sao sự nổi lên của một nước Nga theo chủ nghĩa phục hận ở lục địa Châu Âu.

Các mối quan hệ giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ tạo nên hệ thống thế giới ba cực. Hiện tại, Moscow và Bắc Kinh xác định các lợi ích chiến lược của mình theo nguyên tắc là ngăn cản sức mạnh bá quyền của Mỹ ở Châu Âu và Châu Á - Thái Bình Dương.[13] Trong khi Châu Âu đang phải đối mặt với mối đe dọa về sự thống trị của Nga trên đất liền, tình hình bất ổn ở Châu Á lại xuất phát từ xu hướng quyết đoán trên biển của Trung Quốc. Trong bối cảnh chiến lược như vậy, luật quốc tế có thể là công cụ tăng cường ổn định và trật tự để đảm bảo an toàn hàng hải.

Các đại dương gặp nhiều nguy cơ nhất trên thế giới khi các tuyến giao thương biển bị đe dọa là Vịnh Ba Tư, Biển Hoa Đông và Biển Đông. Các nền kinh tế xuất khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia Châu Á khác đều phụ thuộc rất lớn vào các tuyến giao thương biển để phát triển nền kinh tế thịnh vượng. Kể từ khi lập quốc vào thế kỷ 18, Mỹ luôn đi đầu bảo vệ tự do trên biển. Nhà sử học lỗi lạc của Mỹ Samuel Flagg Bemis đã gọi học thuyết tự do trên biển là “quyền thừa kế cổ xưa” của Cộng hòa Mỹ.[14] Di sản này đã gắn liền với nước Mỹ qua các cuộc thế chiến, Chiến tranh Lạnh và cho đến hiện tại.[15]

Định hướng Chiến lược Quốc phòng tháng 1/2012 nêu rõ: “Mỹ sẽ tiếp tục đi đầu trong nỗ lực toàn cầu, cùng với các đồng minh và đối tác có năng lực để đảm bảo quyền tiếp cận và sử dụng các tài sản chung toàn cầu…thông qua việc duy trì năng lực quân sự phù hợp và mang tính tương tác”.[16] Cũng trong tháng 1/2012, Lầu Năm góc đưa ra bản Khái niệm Tiếp cận và Tác chiến Chung mô tả cách thức lực lượng Mỹ vô hiệu Chiến lược Chống Xâm nhập Tiếp cận (A2/AD) của các đối thủ cạnh tranh.[17] Tương tự, năm 2015, Chiến lược An ninh Quốc phòng của Mỹ đã tái khẳng định học thuyết lịch sử này khi tuyên bố: “Mỹ có lợi ích lâu bền về quyền tự do hàng hải và hàng không cũng như sự bền vững đối với môi trường biển và trên không”.[18] Quan điểm này được lặp lại trong tầm nhìn của ba lực lượng là Tuần duyên-Thủy quân Lục chiến-Hải quân, đó là Chiến lược Hợp tác hướng tới Sức mạnh biển thế kỷ 21, chiến lược nêu rõ ba lực lượng vũ trang trên biển của Mỹ sẽ tập trung đảm bảo mọi quyền tiếp cận trên biển.[19]

Sự khác biệt về khái niệm tự do hàng hải là nhân tố chính của tranh chấp, và các công cụ và CBM có thể giúp quản lý tranh chấp. Vì một nửa hoạt động vận tải biển toàn cầu đi qua Biển Đông,[20] bổn phận của các quốc gia cảng biển, ven biển và quốc gia biển là đảm bảo tự do và an toàn hàng hải cho toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, với tầm nhìn đối lập về tự do hàng hải, Trung Quốc cho rằng các quyền này chỉ áp dụng cho tàu thương mại, trong khi đó Mỹ lại cho rằng định nghĩa tự do hàng hải áp dụng cho cả hoạt động quân sự và thu thập thông tin.[21] Vì lợi ích của khu vực, hai cường quốc cũng như các quốc gia khác cần gác bỏ những tranh chấp mang tính lý thuyết và tiến tới các thỏa thuận mang tính thực tế để giảm va chạm giữa các lực lượng hải quân. Để đạt được điều đó, các quốc gia đã tận dụng các công cụ mang tính ràng buộc và không ràng buộc.

Các Công cụ Xây dựng Lòng tin

Phần này sẽ phân tích các thỏa thuận và hiệp định, đánh giá tác động của chúng đối với đảm bảo an toàn hàng hải ở Biển Đông. Phần này cũng đặt các thỏa thuận trong bối cảnh chiến lược về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Điều quan trọng là cho đến nay, việc Trung Quốc không thực hiện đầy đủ các chuẩn mực quốc tế cho thấy các thỏa thuận mới sẽ không tạo ra sự thay đổi cụ thể và lâu bền đối với tự do hàng hải ở Biển Đông. Mặc dù các thỏa thuận là bước đi đúng hướng, thực tiễn quốc gia cho đến nay, đặc biệt là Trung Quốc, lại cho thấy không hề có sự lạc quan hay hứa hẹn lớn nào về vấn đề bảo đảm quyền của mọi quốc gia sử dụng các tuyến đường biển ở Biển Đông.

Trước hết, trong số các hiệp định mang tính ràng buộc thúc đẩy sự minh bạch và ổn định thì Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (gọi là LOSC hay Công ước) là nền tảng trật tự dựa trên luật lệ cho các đại dương.[22] Một vài khía cạnh của LOSC nhằm xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột trên biển. Đầu tiên, Công ước quy định bộ quy tắc được chấp nhận trên toàn cầu về hoạt động hảng hải trong vùng lãnh hải, hoạt động hàng hải và hàng không qua eo biển được sử dụng trong hàng hải quốc tế, cũng như tự do biển cả trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và tự do biển cả. Thứ hai, những quy tắc này cấu thành nên gói thỏa thuận toàn diện tập trung vào việc sử dụng trên thực tiễn của đại dương, quyền và nghĩa vụ chung thay vì chỉ tập trung hoàn toàn vào vấn đề chủ quyền hay quyền tài phán đối với không gian chung. Thứ ba, quyền và nghĩa vụ được phản ánh trong Công ước được thực hiện thông qua các quốc gia tàu thuyền mang cờ, quốc gia ven biển và quốc gia cảng biển dựa trên sự phân chia về thẩm quyền thi hành và thẩm quyền theo tập quán với mục đích ngăn ngừa xung đột. Chẳng hạn, trong khi các quốc gia ven biển có thẩm quyền theo tập quán về kế hoạch phân luồng giao thông tại các eo biển phù hợp với Điều 41(1) của LOSC, thẩm quyền thi hành thuộc về quốc gia tàu thuyền mang cờ theo như Điều 41(7) và Điều 94.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Trần Quang (dịch)

Tuấn Đinh (hiệu đính)

James Kraska, Giáo sư Howard S. Lavie trường Luật Quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu Luật Quốc tế Stockton, Học viện Hải chiến Mỹ, Newport, RI 02841, Mỹ. Email Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. . Bài viết được đăng trên The International Journal of Marine and Coastal Law, Volume 32.

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Xem ‘Malaysian vessels ram Vietnamese boat, leaving one fisherman missing’ (13/10/2014) Tuoitre News (Vietnam), tại http://tuoitrenews.vn/society/23211/malaysianvessels-ram-vietnamese-boat-leaving-one-fisherman-missing ; ‘Vietnam vessels ‘ram China ships 1,400 times’’ (9/6/ 2014) Al Jazeera, tại http://www.aljazeera.com/news/asia-pacific/2014/06/vietnam-vessels-ram-china-ships-1400-times-201469132238719725.html; và E Slavin, ‘USslams ‘provocation’ after Chinese reportedly ram Vietnamese ships’ (8/5/2014)  Stars and Stripes, xem tại  http://www.stripes.com/news/us-slams-provocation-after-chinese-reportedly-ram-vietnamese-ships-1.282098

[2] Công ước Quy định Quốc tế Ngăn ngừa Va chạm trên Biển (London, 20/10/1972, có hiệu lực từ ngày 15/7/1977) 1050 UNTS 17 (dười đây gọi là “COLREG”).

[3] Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương, Quy tắc Chạm trán Bất ngờ trên Biển (Thanh Đảo, Trung Quốc, ngày 22/4/2014) (sau đây gọi là CUES 2014), xem tại http://news.usni.org/2014/06/17/document-conduct-unplanned-encounters-sea.

[4] Biên bản Ghi nhờ Mỹ - Trung về Quy tắc Hành vi An toàn cho các Chạm trán trên Không và trên Biển (Washington và Bắc Kinh, 9-10/11/2014) (sau đây gọi là “MOU Quy tắc”), xem tại http://archive.defense.gov/pubs/141112_MemorandumOfUnderstandingRegardingRules.pdf. Có ba bản ghi nhớ liên quan, chúng bao gồm các phụ lục. Xem Các Điều khoản Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc Chạm trán trên Không và trên Biển (Phụ lục (I)) và Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc Chạm trán trên mặt Biển (Phụ lục II), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/141112_MemorandumOfUnderstandingRegardingRules.pdf. Xem thêm Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc chạm trán trên Không (Phụ lục III) ( ngày 18/9/2015) và Bổ sung về Chạm trán Trên Không (Kết luật trong Phụ lục I) (18/9/2015), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/US-CHINA_AIR_ENCOUNTERS_ANNEX_SEP_2015.pdf

[5] Xem E Rosenthal and DE Sanger, ‘U.S. plane in China after it collides with Chinese jet’ (2/4/2001) The New York Times, at p. A1; D Sevastopulo, ‘White House protests to Beijing over naval incidents’ (10/3/2009) Financial Times, at p. 3; AS Tyson, ‘China draws U.S. protest over shadowing of ships’ (10/3/2009) The Washington Post, at p. A8; J Perlez, ‘American and Chinese navy ships nearly collided in South China Sea’ (15/12/2013) The New York Times, at p. A21; and C Whitlock, ‘Pentagon: China tried to block U.S. aircraft’ (23/8/2014) The Washington Post, at p. A7.

[6] DK Shipler (21/1/1974) The New York Times, at p. 2: “Saigon mil command repts Chinese Planes and Ground Troops Secured Paracels Jan 20. Lt Col Le Trung Hien says Saigon does not yet consider islands lost. Diplomats in Saigon mystified by Chinese attack. Mil action and Chinese and S Vietnamese claims to islands revd”. See also CS Wren, ‘Who are the foreigners in the South China Sea?’ (9/2/1983) The New York Times, at p. A2

[7] (21/1/1974) The New York Times, at p. 2 (trích dẫn thông báo Tân Hoa xã, 20/1/1974)

[8] R Thomson, ‘China and Vietnam clash over disputed islands’ (15/3/1988) Financial Times, at p. 4; N Cumming-Bruce, ‘Hanoi denounces Peking designs on Spratlys’ (25/4/1988) The Guardian; and ‘China turns down Hanoi call for talks on Spratlys’ (25/3/1988) The Guardian.

[9] Phái đoàn thường trực Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, Công hàm, CML/17/2009 và CML/18/2009 (7/5/2009), xem tại http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf  và http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf

[10] ‘Philippines files protest claims at UNover disputed Spratly Islands’ (11/8/2009) BBC Worldwide (trích dẫn T Jamandre, ‘Manila files protest claims over islands’ (11/8/2009) Vera Files)

[11] Quá trình và tình trạng hiện tại các công trình đảo có thể xem theo thời gian thực diễn ra tại Sáng kiến Minh bạch Biển, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược va Quốc tế, xem tại http://amti.csis.org

[12] South China Sea Arbitration (The Republic of Philippines v.The People’s Republic of China), Award (12/7/2016), PCA Case No. 2013–19, xem tại http://www.pcacases.com/web/view/7 . Xem S Denyer and E Rauhala, ‘Beijing’s claims to South China Sea rejected by international tribunal’ (12/7/2016) The Washington Post, xem tại https://www.washingtonpost.com/world/beijing-remains-angry-defiant-and-defensive-as-key-southchina-sea-tribunal-ruling-looms/2016/07/12/11100f48-4771-11e6-8dac-0c6e4accc5b1_story.html?utm_term=.8facea303e80; và d E Rauhala, ‘China: disregard the South China Sea ruling.he Philippines: no’ (19/7/2016) The Washington Post, xem tại https://www.washingtonpost.com/news/worldviews/wp/2016/07/19/china-disregard-the-southchina-sea-ruling-the-philippines-no/?utm_term=.4844eca0c4ec

[13] T O’Connor, ‘War Games: Russia and China join forces against global USmissile shield’ (12/10/2016) International Business Times, xem tại http://www.ibtimes.com/war-games-russia-china-join-forces-against-global-us-missile-shield-2430751.

[14] S Flagg Bemis, A Diplomatic History of the United States (4th ed., Henry Holt, New York, 1955), tr. 875

[15] Xem CG Fenwick, ‘The Freedom of the Seas’ (1917) 11(2) American Political Science Review 386–388, tr. 388

[16] U.S. Department of Defense, Sustaining Global Leadership: Priorities for 21st Century Defense (3 January 2012), available at http://www.defense.gov/news/Defense_Strategic_Guidance.pdf.

[17] U.S.Department of Defense, Joint Operational Access Concept (17/1/2012), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/JOAC_Jan%202012_Signed.pdf

[18] President of the United States, National Security Strategy (2/2015), tr. 13, xem tại http://nssarchive.us/wp-content/uploads/2015/02/2015.pdf.

[19] R Mabus, Secretary of the Navy, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower (3/2015), tr. 19–22, xem tại https://www.uscg.mil/SENIORLEADERSHIP/DOCS/CS21R_Final.pdf. Xem thêm TS Morris, M VanDriel, B Dries, JC Perdew, RH Schulz and KE Jacobsen, ‘Securing Operational Access: Evolving the Air-Sea Battle Concept’ (11/2/2015) The National Interest, xem tại http://nationalinterest.org/feature/securing-operational-access-evolving-the-air-sea-battle-12219

[20] ‘A disputed sea is a growing security nightmare—and increasingly an ecological one’ (2/5/2015) The Economist, xem tại http://www.economist.com/news/leaders/21650122-disputed-sea-growing-security-nightmareand-increasingly-ecological-one-seatroubles/comments?page=1.

[21] R Guy, ‘Beijing ups ante on sea claims’ (22/11/2011) Australian Financial Review, tr. 15

[22] United Nations Convention on the Law of the Sea (Montego Bay, 10/12/1982, có hiệu lực từ 16/11/1994) 1833 UNTS 396 (sau đây gọi là “LOSC”).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

Một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Họ sẽ không thể tự do tiến hành hoạt động ở những nơi mà họ đang can dự ở Trường Sa.

Đọc tiếp...

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Bất chấp sự lạc quan của Duterte về các cơ hội trước mắt, vốn được Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nhắc lại trong chuyến thăm của ông tới Manila vừa qua, điều này che đậy những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến quá khứ, bối cảnh hiện tại và tương lai gần.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 12944 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin