21 - 8 - 2018 | 1:06
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Email In PDF.

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

 

Tóm tắt

- Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông - COC.

- Trong khi dự thảo khung là một bước đi hướng tới tiến trình quản lý xung đột cho Biển Đông, văn kiện này có chi tiết ngắn gọn và mang nhiều nguyên tắc và điều khoản cũ đã có trong Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), vốn thậm chí vẫn chưa được thực hiện một phần.

- Văn kiện này bao gồm một phần mới nhắc đến việc ngăn ngừa và quản lý các vụ việc, cũng như một cam kết dường như mạnh mẽ hơn đối với an ninh và tự do hàng hải. Tuy nhiên, cụm từ “ràng buộc pháp lý” lại không xuất hiện, cũng như phạm vi địa lý của thỏa thuận và các cơ chế thực thi và phân xử.

- Dự thảo khung sẽ lập nên nền tảng cho các cuộc đàm phán xa hơn về COC. Các thảo luận đó có thể kéo dài và gây thất vọng cho các thành viên ASEAN vốn hy vọng được chứng kiến một COC ràng buộc về pháp lý, toàn diện và hiệu quả.

Mở đầu

Ngày 6/8/2017 ở Manila, Ngoại trưởng Trung Quốc và ASEAN đã thông qua dự thảo khung về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Dự thảo khung này trước đó đã được thông qua trong Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN-Trung Quốc về thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (SOM-DOC) ở Quý Dương, Trung Quốc ngày 19/5/2017.

Dự thảo khung được các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc chào đón rộng rãi. Trong tuyên bố chung của họ - vốn bị trì hoãn gần 24 giờ do những khác biệt giữa các thành viên ASEAN về cách mô tả tranh chấp - Ngoại trưởng các nước ASEAN nói họ “được khích lệ” bởi việc thông qua dự thảo khung mà sẽ “thúc đẩy công tác ký kết một COC hiệu quả trong một khung thời gian các bên cùng nhất trí”. Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh nói ông hy vọng dự thảo khung sẽ “mở đường cho các đàm phán có ý nghĩa và đáng kể tiến tới ký kết COC”, nhưng nói thêm rằng nếu bộ quy tắc này có hiệu quả trong việc ngăn ngừa và quản lý vụ việc ở Biển Đông, thì nó sẽ phải có tính ràng buộc về pháp lý - một cụm từ dường như không xuất hiện trong dự thảo khung. Ngoại trưởng Singapore Vivian Balakrishnan đã gọi dự thảo khung là “một văn kiện quan trọng vì theo nghĩa nào đó nó đại diện cho sự đồng thuận và quan trọng hơn là, một cam kết nhân danh 10 nước ASEAN và Trung Quốc để tạo tiến triển cho vấn đề kéo dài từ lâu này”. Theo Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị, dự thảo khung “đem lại sự ổn định cho vấn đề này, thể hiện một động lực tích cực. Điều này cho thấy mong muốn chung của chúng ta là bảo vệ hòa bình và sự ổn định ở Biển Đông”. Tuy nhiên, đáng ngại hơn, Vương Nghị tiếp tục nói rằng các đàm phán đáng kể về nội dung của bộ quy tắc sẽ chỉ có thể bắt đầu nếu “không có sự phá hoại lớn từ các bên bên ngoài”, một lời ám chỉ úp mở về Mỹ, nước mà Trung Quốc luôn cáo buộc là “can thiệp” vào cuộc tranh chấp.

Quá trình đàm phán COC kéo dài và khó khăn. Tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã kêu gọi các bên thông qua COC. Sự khác biệt giữa DOC và COC được đề xuất chưa bao giờ được làm rõ, dù một số thành viên ASEAN, đặc biệt là các nước tuyên bố chủ quyền Đông Nam Á, đã vạch ra một thỏa thuận ràng buộc pháp lý sẽ toàn diện và hiệu quả hơn DOC vốn là một tuyên bố mang tính chính trị không ràng buộc.

Phải đến năm 2013, Trung Quốc mới đồng ý bắt đầu đàm phán với ASEAN về COC. Do những căng thẳng tăng cao ở Biển Đông, khi các cuộc thảo luận bắt đầu vào đầu năm 2014, một số thành viên ASEAN đã nhiều lần kêu gọi xúc tiến các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, phải cho tới sau khi Tòa trọng tài ở La Haye ra phán quyết lịch sử vào ngày 12/7/2016 thì Trung Quốc mới đồng ý đẩy nhanh đàm phán. Có hai lý do có thể giải thích tại sao Trung Quốc đồng ý làm vậy. Thứ nhất, Bắc Kinh muốn đánh lạc hướng sự chỉ trích ra khỏi việc nước này bác bỏ phán quyết của Tòa trọng tài và thay vào đó tạo dựng hình ảnh một đối tác biết hợp tác. Thứ hai, phản ứng của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte với phán quyết. Mặc dù phán quyết hoàn toàn ủng hộ Philippines, Duterte đã quyết định đặt nó sang một bên và ưu tiên tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc trong khi giải quyết các tuyên bố lãnh hải và quyền tài phán chồng chéo của hai nước trên cơ sở song phương. Các tiếp cận của Duterte đã khiến căng thẳng Trung Quốc-Philippines giảm đáng kể ở Biển Đông, đặc biệt sau khi Bắc Kinh dỡ bỏ phong tỏa bãi cạn Scarborough vào tháng 10/2016, điều từng ngăn ngư dân Philippines đánh bắt ở bãi cạn này từ tháng 5/2012. Việc hạ nhiệt căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc cũng có thể đã góp phần cải thiện bầu không khí trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc.

Trong nửa đầu năm 2017, các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã gặp gỡ 3 lần để thảo luận COC. Tại cuộc họp Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc lần thứ 19 về thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (JWG-DOC) ở Bali, Indonesia, ngày 27/2, hai bên đã nhất trí về phác thảo cơ bản của dự thảo khung. Một phiên bản 1 trang dài hơn sau đó đã được thảo luận tại JWG-DOC lần thứ 20 ở Siem Reap, Campuchia, vào ngày 30/3/2017. Phiên bản này đã được sửa đổi chút ít trong các cuộc họp SOM-DOC ở Quý Dương vào tháng 5. Bài viết này tập trung vào nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng.

Dự thảo khung dài hơn 1 trang và được chia thành 3 phần: 1. Các điều khoản mở đầu; 2. Các điều khoản chung; 3. Các điều khoản cuối.

Các điều khoản mở đầu

“Các điều khoản mở đầu” chỉ liệt kê 3 mục ngắn: a. Cơ sở của COC; b. Sự liên kết và tương tác giữa DOC và COC; và c. Tầm quan trọng và các nguyện vọng.

Mặc dù phần b không giải thích chi tiết mối quan hệ giữa DOC và COC, theo những người biết rõ các cuộc đàm phán, Trung Quốc coi COC là một phần của tiến trình thực hiện DOC, và theo đó DOC sẽ ảnh hưởng lớn đến nội dung của COC. Điều này cho thấy rằng COC cuối cùng có thể không quá khác DOC. Như các quan chức Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh, người ta nên hạ thấp kì vọng rằng COC sẽ khác biệt cơ bản với DOC.

Các điều khoản chung

“Các điều khoản chung” bao gồm 3 phần: a. Các mục tiêu; b. Các nguyên tắc; và c. Các nghĩa vụ cơ bản.

Mục tiêu đầu tiên là “Thiết lập một khuôn khổ dựa trên các quy tắc bao gồm một loạt quy chuẩn chỉ đạo cách ứng xử của các bên và thúc đẩy hợp tác hàng hải trên Biển Đông”. Điều có ý nghĩa là cụm từ “khuôn khổ dựa trên các quy tắc” được sử dụng thay vì “có tính ràng buộc về mặt pháp lý” mà một số nước ASEAN đã vạch ra từ lâu về COC. Tuy nhiên, do Trung Quốc phản đối một bộ quy tắc có tính ràng buộc về mặt pháp lý vì nó sẽ hạn chế quyền tự do hành động trên Biển Đông và vì bản thân các nước ASEAN không có sự đồng thuận về vấn đề này, cụm từ này đã bị bỏ đi. Liệu nó có được đưa vào các phiên bản sau này của COC hay không vẫn cần phải được xem xét, nhưng Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ cố gắng đảm bảo rằng điều này không xảy ra. Vì vậy, bản COC cuối cùng có khả năng sẽ mang tính tự nguyện và không ràng buộc, như DOC và Quy tắc ứng xử đối với những vụ va chạm ngoài ý muốn trên biển (CUES).

Mục tiêu thứ hai là “Thúc đẩy lòng tin lẫn nhau, sự hợp tác và uy tín, ngăn ngừa các sự cố, giải quyết các sự cố nếu chúng xảy ra, và tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp”. Trong DOC, các bên cũng đã nhất trí xây dựng “lòng tin và uy tín” và “tăng cường các điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và lâu dài cho những bất đồng và tranh chấp giữa các nước có liên quan”. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên họ nhất trí ngăn ngừa và giải quyết các sự cố trên biển. Sự đề cập đến việc ngăn ngừa và giải quyết các sự cố nhấn mạnh rằng tần suất của các hoạt động gây căng thẳng đã gia tăng đáng kể từ khi DOC được ký kết vào năm 2002 – và đặc biệt sau năm 2007-2008 – và nhu cầu cấp thiết phải giải quyết tốt hơn tranh chấp và ngăn ngừa các sự cố nguy hiểm tiềm tàng xảy ra và leo thang.

Mục tiêu thứ ba là “Đảm bảo an ninh và an toàn hàng hải và quyền tự do đi lại trên biển và trên không”. Các bên tham gia DOC cũng “đã tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của họ đối với quyền tự do đi lại trên biển và trên không ở Biển Đông” nhưng “đảm bảo” nghe mạnh hơn một chút so với “sự tôn trọng và cam kết đối với” và nhấn mạnh mối quan ngại của một số nước ASEAN rằng tranh chấp có nguy cơ làm xói mòn quyền tự do hàng hải, đặc biệt nếu Trung Quốc tuyên bố một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông như họ đã làm đối với các phần của biển Hoa Đông hồi tháng 11/2013. Lập trường của Trung Quốc là tranh chấp không đe dọa quyền tự do hàng hải.

Mục “Các nguyên tắc” được chia thành 4 phần. Nguyên tắc đầu tiên là COC “không phải là một công cụ để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay các vấn đề về phân định ranh giới trên biển”. Điều này không gây tranh cãi như nó dường như có thể có, vì các nước thành viên ASEAN chưa bao giờ ủy nhiệm cho tổ chức này giải quyết tranh chấp; điều đó chỉ có thể được thực hiện bởi chính các bên yêu sách, hoặc thông qua sự phân xử hợp pháp hoặc các cuộc thương lượng chính trị, song phương hoặc đa phương. Câu này được đưa vào dự thảo khung nhằm dẹp bỏ ý nghĩ rằng COC sẽ giúp “giải quyết” những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán giữa các bên yêu sách như đôi khi vẫn bị tuyên bố sai trong các phóng sự trên các phương tiện truyền thông.

Nguyên tắc thứ hai là một cam kết đối với “các mục đích và nguyên tắc” của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1892, Hiệp ước thân thiện và hợp tác, 5 Nguyên tắc chung sống hòa bình và “các nguyên tắc khác của luật pháp quốc tế được mọi người công nhận”. Ngôn từ này cũng xuất hiện trong DOC và đã tạo thành nền tảng của quan hệ ASEAN-Trung Quốc kể từ khi các mối quan hệ đối thoại được thiết lập vào năm 1991.

Nguyên tắc thứ ba là “Cam kết thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC”, điều mà ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí từ trước. Cách thức thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC không được đề cập. Các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã thảo luận các cách thức thực thi kể từ năm 2005 mà hầu như không có tiến triển gì. Như đã lưu ý ở trên, Trung Quốc dường như xem COC như là một phần của tiến trình thực thi DOC.

Nguyên tắc thứ tư là “Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau phù hợp với luật pháp quốc tế, và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác”. Điều khoản này là mới, mặc dù nó nhắc lại nguyên tắc 1 và nguyên tắc 3 của 5 Nguyên tắc chung sống hòa bình. Sự nhắc lại được sử dụng để củng cố tầm quan trọng của 2 nguyên tắc này trong ứng xử về các mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, đặc biệt khi tình trạng bất cân xứng về sức mạnh giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á ngày một gia tăng kể từ khi DOC được ký kết vào năm 2002.

“Các nghĩa vụ cơ bản” bao gồm 6 phần: i. Nghĩa vụ hợp tác; ii. Thúc đẩy hợp tác hàng hải thiết thực; iii. Tự kiềm chế/Thúc đẩy lòng tin và uy tín; iv. Ngăn ngừa các sự cố, sau đó là 2 dấu chấm đầu dòng – thứ nhất là “Các biện pháp xây dựng lòng tin” và thứ hai là “Các đường dây nóng”; v. Quản lý các sự cố, sau đó là một dấu chấm đầu dòng lặp lại “Các đường dây nóng”; và vi. “Các nghĩa vụ khác phù hợp với luật pháp quốc tế để hoàn thành các mục tiêu và nguyên tắc của COC”.

“Nghĩa vụ hợp tác” là nghĩa vụ theo UNCLOS đã được tất cả các bên, ngoại trừ Campuchia, thông qua. Trong khi không được nói rõ trong văn bản này, phần ii được cho là bao gồm các hoạt động như tìm kiếm cứu nạn, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia trên biển, điều mà Trung Quốc mong muốn thúc đẩy. Các hoạt động hợp tác tại những lĩnh vực chức năng này cũng đã được đưa vào DOC.

Cụm từ “tự kiềm chế” không được định nghĩa và đây là một trong những thiếu sót lớn của DOC. Do cụm từ này không được định nghĩa, các bên tham gia khác nhau đã diễn giải nó theo cách mà họ thấy là phù hợp. Kể từ năm 2002, các bên yêu sách đã cáo buộc lẫn nhau vi phạm điều khoản tự kiềm chế trong khi chính họ lại tham gia các hoạt động mà rõ ràng là vi phạm điều khoản này – từ việc tu sửa một đường băng đang tồn tại đến, trong trường hợp của Trung Quốc, địa khai hóa 7 cấu trúc địa hình rất nhỏ thành các đảo nhân tạo lớn. Nếu DOC cần gia tăng giá trị của nó, thì “tự kiềm chế” sẽ cần phải được định nghĩa.

Gắn với điều khoản “Tự kiềm chế” là “Ngăn ngừa các sự cố”, một sự phát triển mới và được chào đón vì nó cho rằng trong tương lai, các quan chức ASEAN và Trung Quốc có thể nhất trí về một danh sách các hoạt động mà các lực lượng vũ trang của họ, và có khả năng là các lực lượng bảo vệ bờ biển của họ, bị cấm tiến hành, giống như thỏa thuận năm 1972 giữa Mỹ và Liên Xô về các sự cố trên biển mà bao gồm trong đó một danh sách dài “những điều nên và không nên làm”. DOC cũng kêu gọi các bên thiết lập các biện pháp và lập danh sách 5 lĩnh vực có thể có. Năm 2016, ASEAN và Trung Quốc nhất trí áp dụng CUES đối với Biển Đông và phê chuẩn các đường lối chỉ đạo nhằm thiết lập những đường dây nóng ngoại giao để sử dụng trong các tình trạng khẩn cấp trên biển và các cuộc khủng hoảng mà đều có thể tích hợp vào bản COC cuối cùng.

Các điều khoản cuối cùng

Phần thứ ba và là phần cuối cùng của dự thảo khung này là Các điều khoản cuối cùng. Phần này gồm 5 dòng ngắn gọn: a. “Khuyến khích các nước khác tôn trọng các quy tắc được bao gồm trong COC”; b. “Các cơ chế cần thiết để giám sát việc thực thi”; c. “Đánh giá COC”; d. “Bản chất”; và 3. “Hiệu lực thi hành”.

Nhìn bề ngoài, phần a dường như vô hại, nhưng dường như ý định của Bắc Kinh là xác lập Biển Đông chỉ như một vấn đề giữa Trung Quốc và các bên yêu sách ở Đông Nam Á – với ASEAN đóng vai trò hạn chế trong việc quản lý xung đột – và các bên liên quan khác, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản, không nên “can thiệp” vào cuộc tranh chấp này. Điều này phù hợp với lập trường lâu dài của Trung Quốc từng được Ngoại trưởng Vương Nghị nhắc lại tại Manila.

Các phần b và c dường như chỉ ra rằng thỏa thuận cuối cùng sẽ được giám sát bởi Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN-Trung Quốc về thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (SOM-DOC), được hỗ trợ bởi Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc về thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (JWG-DOC), sau đó sẽ báo cáo lên cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc và ASEAN, những người có thể yêu cầu đánh giá COC nếu họ cho là cần thiết.

Các phần c và d có ý nghĩa cực kỳ quan trọng ở chỗ chúng để ngỏ triển vọng rằng COC có thể mang tính ràng buộc về mặt pháp lý. COC khi đó sẽ phải được thông qua theo các tiến trình nội bộ Trung Quốc và 10 nước thành viên ASEAN. Tuy nhiên, như đã lưu ý ở trên, Trung Quốc kiên quyết phản đối một bộ quy tắc có tính ràng buộc về mặt pháp lý.

Điều gì còn thiếu?

Ngoài các điều khoản chi tiết và cụm từ “có tính ràng buộc về mặt pháp lý”, có một vài vấn đề quan trọng không được đưa vào thỏa thuận.

Một là, dự thảo khung này không đề cập đến phạm vi địa lý của COC, trong đó có việc liệu nó có được áp dụng cho cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang tranh chấp hay không hay chỉ các khu vực nhất định. Trong các cuộc đàm phán về DOC, Việt Nam đã lập luận rằng cần đưa tên gọi của 2 quần đảo này vào DOC, nhưng vì không thể đạt được sự đồng thuận nên chúng đã bị bỏ đi. Điều này có lẽ không gây ra vấn đề gì chừng nào COC được áp dụng cho toàn bộ Biển Đông.

Hai là, trong khi văn bản này đề cập đến “các cơ chế giám sát việc thực thi”, nó lại không nói gì đến các biện pháp thực thi và các cơ chế phân xử nếu một bên cáo buộc một bên khác vi phạm bộ quy tắc này. Nói chung, ASEAN tránh các điều khoản về việc thực thi trong các thỏa thuận của mình. Tuy nhiên, sự thiếu vắng các biện pháp thực thi và và các cơ chế phân xử sẽ làm suy yếu tính hiệu quả của bản COC cuối cùng.

Triển vọng

Bất chấp những thiếu sót của nó, việc ASEAN và Trung Quốc thông qua dự thảo khung này là một bước tiến trong tiến trình giải quyết xung đột kéo dài 2 thập kỷ đối với Biển Đông. Tiến về phía trước, dự thảo khung này sẽ tạo thành nền tảng của các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về COC. Tuy nhiên, nếu quá khứ là phần mở đầu, thì tiến trình này có khả năng bị kéo dài và gây nản lòng, đặc biệt đối với những nước Đông Nam Á muốn có một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, toàn diện và hiệu quả được thực thi nhanh nhất có thể.

Ian Storey là nghiên cứu viên cấp cao chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á Đương đại, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) -  Viện Yusof Ishak. Bài viết được đăng trên ISEAS.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7065 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin