16 - 12 - 2017 | 8:14
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Email In PDF.

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

 Biển Đông là một trong năm khu vực đánh bắt cá năng suất cao nhất trên thế giới, chiếm khoảng 12% tổng lượng đánh bắt cá toàn cầu trong năm 2015. Hơn một nửa tàu cá trên thế giới hoạt động trong vùng biển này, cung cấp công ăn việc làm cho hơn 3,7 triệu người, và hầu hết ngư dân hoạt động tại vùng biển này đều có liên quan đến đánh bắt cá bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo (IUU fishing). Hệ sinh thái biển quan trọng này đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi việc đánh bắt cá quá mức. Các nguyên nhân gồm trợ cấp chính phủ cho việc đánh bắt cá, các kỹ thuật đánh bắt cá gây hại và trong những năm gần đây, là đánh bắt sò tai tượng quy mô lớn và nạo vét để xây dựng đảo.


Tổng lượng cá ở Biển Đông đã suy giảm khoảng 70-95% kể từ những năm 1950 và tỷ lệ đánh bắt đã giảm 66-75% trong vòng 20 năm qua. Việc đánh bắt sò tai tượng, nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo trong những năm gần đây đã hủy hại hơn 160 km2 rạn san hô, với tỷ lệ bình quân là 16%/thập kỷ. Toàn bộ nghề cá Biển Đông, với số liệu chính thức là kế sinh nhai của hơn 3,7 triệu ngư dân và giúp cung cấp thực phẩm cho hàng trăm triệu người, đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá nếu các nước yêu sách không hành động kịp thời để giải quyết sự sụt giảm này.

Điều 123 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UCNLOS) quy định rằng các quốc gia xung quanh vùng biển nửa kín như Biển Đông có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển và quản lý nguồn cá. Điều này được phản ánh qua mối liên hệ chặt chẽ giữa các hệ sinh thái ở vùng biển nửa kín, mà trong đó các tài nguyên sinh vật biển (và cả ô nhiễm biển) sẽ tự do di chuyển đến tất cả các khu vực khác nhau mà không cần sự cho phép của thẩm quyền quốc gia.  Điều 192 UNCLOS quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia “bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Khác với việc khai thác dầu khí chỉ có thể thực hiện dựa trên quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với thềm lục địa, nghĩa vụ cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên sinh vật biển khiến cho việc quản lý nghề cá và bảo vệ môi trường trở thành một lĩnh vực dễ thúc đẩy hợp tác hơn ở Biển Đông.

Một hệ thống hiệu quả để quản lý môi trường và nghề cá ở Biển Đông không thể chỉ dựa vào các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn, mà không quan tâm đến nguồn tài nguyên cá. Thay vào đó, hệ thống này cần được xây dựng xoay quanh toàn bộ hệ sinh thái biển, đặc biệt là hệ thống rạn san hô. Trên thực tế, hầu hết các sinh vật biển đều sống phụ thuộc vào các rạn san hô. Với ý chí chính trị đủ mạnh, các quốc gia xung quanh Biển Đông hoàn toàn có khả năng hợp tác hiệu quả để bảo vệ những hệ sinh thái này và quản lý nguồn cá mà không làm ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ chồng lấn. Ví dụ, mặc dù trong Hiến pháp Philippines có những yêu cầu khắt khe về bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia này tại các vùng biển và thềm lục địa, tuy nhiên Philippines vẫn có thể đồng ý hợp tác quản lý nghề cá trong khu vực tranh chấp theo Điều 123 UNCLOS mà không ảnh hưởng đến yêu sách của nước này hay công nhận tính chính đáng của yêu sách của các nước khác, và theo đó mà không ảnh hưởng đến nội luật của Philipines.

Nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý nghề cá và môi trường biển hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tế. Các cộng đồng dân cư xung quanh Biển Đông phụ thuộc mạnh mẽ vào nguồn cá cả về an ninh lương thực và kế sinh nhai của người dân. Tuy nhiên tại khu vực, tỷ lệ đánh bắt cá sụt giảm trong những năm gần đây do sự kết hợp của hai nhân tố gồm đánh bắt cá quá mức và việc phá hủy môi trường có chủ ý. Tại Biển Đông, cá có thể đẻ trứng ở trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia (EEZ), sống một thời gian tại EEZ của một nước khác và dành phần đời còn lại ở một quốc gia thứ ba khác. Đánh bắt cá quá mức và phá hủy môi trường ở bất kỳ điểm nào trong chuỗi sinh sống này đều có thể ảnh hưởng đến tất cả những sinh vật khác sống trong vùng biển. Toàn bộ Biển Đông đang đứng trước nguy cơ suy giảm nghề cá, và cách duy nhất để phòng tránh điều này là thông qua hợp tác đa phương ở các vùng biển tranh chấp.

Để làm được điều đó, các quốc gia yêu sách cần nhất trí:

1.    Thiết lập Khu vực Quản lý Môi trường và Nghề cá ở Biển Đông thông qua việc thực thi và thúc đẩy các tiền lệ hợp tác đã thành công gồm Công viên Hải dương Rạn San hô Great Barrier tại Úc (Great Barrier Reef Marine Park) và Công ước về Bảo vệ Môi trường biển ở khu vực Đông Bắc Đại Tây Dương (OSPAR Convention). Khu vực quản lý bao gồm hàng loạt các khu vực nghề cá tách biệt dựa trên các hệ sinh thái khác nhau mà trong đó đã có toàn bộ các rạn san hô cần thiết cho sự tồn tại của các loài cá, bao gồm cả khu vực Hoàng Sa, Trường Sa, Bãi cạn Scarborough, Bãi cạn Luconia cũng như các vùng biển ở giữa, khu vực mà các loài cá biển bị đánh bắt.

·         Khu vực quản lý không nhất thiết phải ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên toàn bộ phạm vi. Thay vào đó, khu vực này có thể bao gồm các khu vực được tự do đánh bắt cá. Một vài khu vực có thể bị hạn chế đánh bắt cá để tạo điều kiện cho các loài cá đang suy giảm nghiêm trọng có khả năng phục hồi. Trong các khu vực khác, có thể chỉ có một vài loài cá cụ thể bị hạn chế, trong khi một vài khu vực có thể không có bất cứ hạn chế nào. Xem Hình 1 và 2 về mô hình kế hoạch này đã được áp dụng tại Công viên Hải dương Rạn San hô Great Barrier.

·        Các nước yêu sách nên công khai nhất trí rằng việc tham gia thiết lập và triển khai Khu vực quản lý sẽ không gây ảnh hưởng đến các yêu sách biển và lãnh thổ, và không được diễn giải thành công nhận yêu sách của nước khác.

·         Việc xác định xem loại cá nào bị cấm hay được cho phép đánh bắt ở các khu vực cần được thực hiện dựa trên các tiêu chí khoa học, như tình trạng của rạn san hô hay tầm quan trọng của loài cá di cư.

·         Thành lập một cơ quan đa phương bao gồm các chuyên gia và quan chức độc lập từ các cơ quan khoa học về quản lý biển, và nghề cá từ các nước trong khu vực. Cơ quan này sẽ thực hiện quy hoạch Khu vực quản lý và tiến hành những điều chỉnh thường xuyên.

·         Tất cả các quốc gia xung quanh Biển Đông nên tham gia vào việc thiết lập và quản lý các khu vực nghề cá, bất kể phạm vi yêu sách biển và lãnh thổ của họ ở đâu tại Biển Đông, vì tất cả đều phụ thuộc vào hệ sinh thái biển trong vùng biển nửa kín ở mức độ như nhau. Điều này có nghĩa là Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam, tất cả cùng nên tham gia vào việc nghiên cứu khoa học và quy hoạch vị trí các khu vực đánh bắt cá.

·         Thành lập một cơ quan tư vấn về quản lý các loài cá biển bao gồm các các nước yêu sách ở Biển Đông và các nước ven biển ở Vịnh Thái Lan. Các nước ở Vịnh Thái Lan không cần tham gia việc quy hoạch các khu vực nghề cá cho các loài cá sống ở các rạn san hô ở Biển Đông nhưng nên được tham vấn về các khu vực hướng đến quản lý các loài cá di cư di chuyển giữa hai vùng biển này.

 

2.    Phạm vi trách nhiệm của các bên được quy định như sau:

·         Các nước yêu sách cần chịu trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn các  tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá đã được thỏa thuận trong khu vực 12 hải lý tính từ căn cứ mà nước này kiểm soát ở các thực thể đang tranh chấp VÀ ở trong phạm vi 200 hải lý tính từ đường bờ biển. Trong khu vực chồng lấn giữa phạm vi 12 hải lý từ thực thể mà một nước yêu sách đang kiểm soát với phạm vi 200 hải lý của nước yêu sách khác, khu vực thuộc phạm vi 12 hải lý được ưu tiên hơn. Ở trong khu vực lãnh hải chồng lấn của hai thực thể do hai bên khác nhau kiểm soát, đường trung tuyến sẽ được áp dụng để tách biệt hai khu vực trách nhiệm khác nhau. Các khu vực thực thi này được minh họa trong Hình 3, Hình 4.

·         Việc quy hoạch khu vực trách nhiệm không nên bao gồm cả đánh giá về chủ quyền đối với các thực thể bị chiếm đóng hay vị thế pháp lý (như đảo, đá, bãi nửa nổi nửa chìm hay thực thể hoàn toàn chìm). Các khu vực này cũng không nên gây ảnh hưởng đến việc phân định đường biên giới biển trong tương lai.

·         Việc tuần tra và cấm các tàu vi phạm các quy định hạn chế đánh bắt cá đã thỏa thuận trong Khu vực quản lý sẽ được tiến hành bởi bất cứ bên yêu sách nào. Phạm vi sẽ  bao gồm tất cả các vùng nước và các thực thể bị chiếm đóng cách hơn 200 hải lý từ đường bờ biển. Các quốc gia yêu sách nên tìm kiếm cách phối hợp kiểm soát, bao gồm việc sử dụng cuối cùng các thỏa thuận lái tàu, và chia sẻ thông tin cảnh báo trên biển ở những khu vực này.

·         Việc khởi tố các tàu từ một quốc gia yêu sách vi phạm quy định hạn chế đánh bắt cá trong Khu vực quản lý là trách nhiệm của quốc gia chủ quản tàu. Quốc gia bắt giữ có trách nhiệm chuyển giao tàu và thủy thủ đoàn theo một cách thức hợp lý về thời gian. Việc khởi tố các cá nhân vi phạm từ những quốc gia không có yêu sách nên thuộc trách nhiệm của quốc gia bắt giữ.

3.    Nhất trí không sử dụng trợ cấp chính phủ để khuyến khích đánh bắt cá trong các khu vực đã bị đánh bắt cá quá mức ở Biển Đông.

·         Tất cả các quốc gia yêu sách nên thống nhất bãi bỏ các trợ cấp trong các khu vực nhất định mà có thể khuyến khích đánh bắt cá trong Khu vực quản lý.

·         Các nước yêu sách nên nhất trí rằng ngư dân bị phát hiện vi phạm các quy định của Khu vực quản lý sẽ mất quyền tiếp cận bất kỳ trợ cấp hiện có nào của chính phủ và các chương trình hỗ trợ ngành ngư nghiệp khác.

4.    Điều phối các nỗ lực tái đưa sò tai tượng và các loài đang bị đe dọa khác như rùa biển đến các rạn san hô có ít loài sinh sống ở Biển Đông.

·         Nỗ lực này có thể được điều phối bởi liên kết các trường đại học và tổ chức nghiên cứu, giống như việc các trường đại học và cơ quan nghiên cứu ở Trung Quốc và Đông Nam Á đã tham gia nuôi sò tai tượng nhân tạo, với sự cung cấp tài chính, điều phối và các hỗ trợ hậu cần khác từ chính phủ.

·         Mỗi nước yêu sách phải chịu trách nhiệm cho việc nuôi sò tai tượng và tái đưa các loài khác vào trong các rạn san hô mà nước này đang kiểm soát. Cuối cùng, các rạn san hô không có nước nào kiểm soát có thể được các nhóm thường dân đa quốc gia phục hồi các tài nguyên sinh vật biển. Mặc dù các ưu tiên ngắn và trung hạn cần dành cho các rạn san hô gần các thực thể đang bị kiểm soát do các thực thể này có thể được bảo vệ khỏi các tay săn trộm dễ dàng hơn. Tất cả các bên yêu sách nên nhất trí rằng các hoạt động như vậy có thể được tiến hành mà vẫn tôn trọng hay không làm ảnh hưởng đến các yêu sách chủ quyền.

5.    Tránh các hành động có thể tàn phá môi trường biển hoặc làm thay đổi đáy biển.

·         Các nước yêu sách nên kiềm chế các hành động phá hủy môi trường biển nào như nạo vét, cải tạo đảo, hay xây dựng các cơ sở trên các rạn san hô chưa có nước nào kiểm soát.

·         Các nước yêu sách nên cam kết thực hiện và công bố một cách công khai đánh giá tác động môi trường trước khi tiến hành các công việc xây dựng hay cải tạo trên các thực thể đang kiểm soát.

6.    Hợp tác về nghiên cứu khoa học biển. Nghiên cứu khoa học biển rất cần thiết để đánh giá tình trạng môi trường biển và để triển khai hiệu quả các nỗ lực bảo tồn.

·         Các nước yêu sách nên phối hợp tổ chức nghiên cứu thực địa cho các chuyên gia từ tất cả các nước yêu sách.

·         Mỗi nước yêu sách nên tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyến thăm của các chuyên gia từ các nước yêu sách khác để tiến hành nghiên cứu trên các đảo và đá mà các nước này chiếm đóng, có tính đến việc tiếp cận hạn chế với các điểm quân sự nhạy cảm. Tất cả các nước yêu sách nên thống nhất rằng các tàu nghiên cứu nên được thiết kế mà không làm ảnh hưởng đến yêu sách khác biệt của các bên khác, và việc tham gia này không có nghĩa là các nghiên cứu viên hay quốc gia của nghiên cứu viên công nhận chủ quyền của quốc gia đứng ra tổ chức chuyến thăm

·         Các nước yêu sách nên tổ chức các hội thảo khoa học biển thường xuyên được hỗ trợ bởi tất cả các nước láng giềng với sự tham dự của các chuyên gia trong và ngoài khu vực.

·         Chính phủ các nước nên đầu tư, cả với tư cách cá nhân và tư cách tổ chức cho các chương trình gia tăng nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng và nguy cơ đối với các loài cá - một nguồn tài nguyên phổ biến, có thể tái tạo.


 

Bảng kế hoạch này là sự đồng thuận giữa các thành viên của nhóm chuyên gia về Biển Đông do CSIS điều phối, hoạt động với tư cách cá nhân, không phải đại diện của cơ quan, tổ chức, viện nghiên cứu nơi họ đang làm việc.

  Thùy Anh (dịch)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

Một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Họ sẽ không thể tự do tiến hành hoạt động ở những nơi mà họ đang can dự ở Trường Sa.

Đọc tiếp...

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Bất chấp sự lạc quan của Duterte về các cơ hội trước mắt, vốn được Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nhắc lại trong chuyến thăm của ông tới Manila vừa qua, điều này che đậy những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến quá khứ, bối cảnh hiện tại và tương lai gần.

Đọc tiếp...

Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Mặc dù có nhiều phân tích cho rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn các lực lượng phi dân sự trong các cuộc đụng độ, đối đầu trên biển. Tuy nhiên, bài viết này lại đưa ra những phân tích và dự đoạn một xu hướng khác hoàn toàn.

Đọc tiếp...

Lực lượng biển thứ ba, Dân quân Vũ trang Biển Trung Quốc: Gắn kết chặt chẽ với PLA

Lực lượng biển thứ ba, Dân quân Vũ trang Biển Trung Quốc: Gắn kết chặt chẽ với PLA

Dân quân Vũ trang biển Trung Quốc hoạt động như Lực lượng biển thứ ba của nước này, và đã tham gia vào nhiều vụ va chạm tại các vùng nước tranh chấp. Điều cần thiết cho giới hoạch định chính sách của các bên là phải nắm bắt được vai trò của tổ chức này trong Quân đội Trung Quốc .

Đọc tiếp...

Chặng đường dài của ASEAN hướng tới Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông

Chặng đường dài của ASEAN hướng tới Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông

Nếu lấy quá khứ làm phần mở đầu, việc Trung Quốc coi thường phán quyết và liên tục quân sự hóa các cấu trúc địa hình ở Biển Đông đồng nghĩa với việc chặng đường dài của ASEAN hướng tới một Bộ quy tắc ứng xử (COC) vẫn sẽ bị kéo dài.

Đọc tiếp...

Thực tiễn Quốc gia ở Đông Nam Á: Tiềm năng hợp tác giữa các bên yêu sách trong tranh chấp Biển Đông

Thực tiễn Quốc gia ở Đông Nam Á: Tiềm năng hợp tác giữa các bên yêu sách trong tranh chấp Biển Đông

Mặc dù triển vọng giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ là rất thấp, nhưng những bất đồng về chủ quyền lãnh thổ không nhất thiết phải song hành cùng với việc quản lý tranh chấp Biển Đông. Thực tiễn quốc gia ở Đông Nam Á đã chứng minh điều này.

Đọc tiếp...

Tham vọng của Trung Quốc về vấn đề biển Đông: Một trật tự hàng hải hợp pháp liệu có khả thi?

Tham vọng của Trung Quốc về vấn đề biển Đông: Một trật tự hàng hải hợp pháp liệu có khả thi?

Tầm quan trọng của khu vực biển Đông từ xưa đến nay thể hiện sự cấp thiết trong việc thành lập nên một cơ chế chính trị đảm bảo an ninh và thiết lập trật tự hàng hải, nhưng nỗ lực này đã bị cản trở bởi các cuộc xung đột dân tộc, sự cạnh tranh các chiến lược trên biển và sự mất lòng tin giữa các quốc gia.

Đọc tiếp...

Châu Á Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump

Châu Á Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump

Tờ Các Vấn đề Biển (Maritime Issues) đã tiến hành cuộc phỏng vấn với bà Bonnie S. Glaser, cố vấn cấp cao về châu Á kiêm Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Sức mạnh Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Mỹ (CSIS) về các vấn đề liên quan tới Châu Á – Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump. Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu toàn văn bản dịch.

Đọc tiếp...

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu xung đột xảy ra, tác động không chỉ đối với khu vực mà còn đối với toàn cầu. Cần có các hành động cụ thể để quản lý căng thẳng, trước hết là cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp và chấm dứt thay đổi nguyên trạng, các bên cần nhanh chóng tiến tới ký kết bộ quy tắc ứng xử COC.

Đọc tiếp...

Trung Quốc vẫn chưa thắng trên Biển Đông

Trung Quốc vẫn chưa thắng trên Biển Đông

Nhiều ngưởi tin rằng, Trung Quốc đang nắm lợi thế ở Biển Đông. Tuy nhiên, xem xét kỹ hơn thì thấy Trung Quốc còn rất xa mới có thể hoàn thành được những mục tiêu của mình – thậm chí Trung Quốc còn có một số thất bại nghiêm trọng.

Đọc tiếp...

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Nước Mỹ cần cảnh báo Trung Quốc rằng nếu nước này còn tiếp tục thực hiện các hành động hung hăng trên Biển Đông thì Mỹ sẽ từ bỏ quan điểm trung lập và trợ giúp các quốc gia khác trong khu vực bảo vệ các yêu sách của mình.

Đọc tiếp...

Ván bài ASEAN: Thách thức Biển Đông đối với Sự tự quyết và Thể chế

Ván bài ASEAN: Thách thức Biển Đông đối với Sự tự quyết và Thể chế

Biển Đông có những lợi ích quan trọng đối với tất cả các bên liên quan. ASEAN cũng không là ngoại lệ. Trên cơ sở đó, bài viết này xem xét các nguy cơ trong tranh chấp Biển Đông đối với ASEAN, đặc biệt chú trọng đến các lợi ích và hạn chế của tổ chức này. 

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 13065 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin