23 - 4 - 2019 | 7:03
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Email In PDF.

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

TÓM TẮT

Trong suốt những thập kỷ qua, Mỹ nắm ưu thế vượt trội về hải quân trên khắp các vùng biển xa hay đại dương mở. Sự phát triển nhanh chóng của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) với khả năng hoạt động toàn cầu báo hiệu kỷ nguyên của Mỹ sẽ sớm chấm dứt. Việc Trung Quốc có khả năng triển khai sức mạnh và hoạt động đổ bộ trên toàn cầu là một thực tế chính trị mang tính nền tảng trong tương lai gần và gây ảnh hưởng lớn tới Mỹ và đồng minh. Những nước này cần sẵn sàng đối diện với "một Trung Quốc đã trỗi dậy" thay vì “một Trung Quốc đang trỗi dậy", đặc biệt trong lĩnh vực an ninh biển. Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

MỘT SỐ NHẬN XÉT CHÍNH

Trung Quốc sẽ là Cường quốc Hải quân Biển-Xanh vào năm 2030: Trung Quốc đang nhanh chóng chuyển từ cường quốc lục địa, chủ yếu tập trung vào các vùng biển gần, thành một siêu cường trên biển với khả năng hoạt động ở hai đại dương. Mối quan tâm của PLAN không chỉ giới hạn ở những vùng biển gần (san hai) - Biển Hoàng Hải, Biển Đông và Biển Hoa Đông - mà còn hướng tới Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Trung Quốc muốn thiết lập Ảnh hưởng Quân sự ở Ấn Độ Dương (Indian Ocean Region - IOR): Trung Quốc có lợi ích lớn trong việc duy trì sự lưu thông của các tuyến thương mại biển và môi trường chính trị khu vực ổn định bởi nước này phụ thuộc nhiều vào hoạt động vận chuyển năng lượng, hàng hóa qua IOR. Trung Quốc đến nay thúc đẩy những lợi ích này thông qua hoạt động ngoại giao và các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng quy mô - đáng chú ý là Sáng kiến "Một Vành đai, Một con đường", nhưng nước này cũng tìm kiếm ảnh hưởng về quân sự. Các dự án cảng biển lưỡng dụng, căn cứ quân sự ở Djibouti, và việc Trung Quốc triển khai nhiều binh sĩ tới khu vực cho thấy Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc quân sự ở IOR vào năm 2030.

PLAN Toàn cầu đưa đến cả Cơ hội Hợp tác và Cạnh tranh: Mỹ và Trung Quốc sẽ có cơ hội hợp tác mới, đặc biệt ở Ấn Độ Dương và Trung Đông, như hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai, chống cướp biển và các sứ mệnh khác tương tự. Hợp tác không thể dịch chuyển từ Ấn Độ Dương sang các vùng biển gần của Trung Quốc bởi Trung Quốc coi những khu vực này có những lợi ích to lớn về lãnh thổ. Ngược lại, cạnh tranh có khả năng lan rộng từ các vùng biển gần của Trung Quốc sang Ấn Độ Dương. Trung Quốc lo ngại Mỹ sẽ phong tỏa hoạt động thương mại ở Ấn Độ Dương và một kịch bản xung đột Trung - Mỹ leo thang theo phương ngang (xung đột gia tăng, lan rộng về địa lý - ND).

Năng lực Mới của Trung Quốc Làm Gia tăng Lo ngại Mỹ Bỏ mặc Đồng minh: Khả năng chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực của Trung Quốc sẽ phát huy ảnh hưởng nếu nổ ra xung đột ở các vùng biển gần như Biển Đông, Biển Hoa Đông và Eo biển Đài Loan. Nếu năng lực này kết hợp với khả năng triển khai sức mạnh biển-xanh và năng lực đổ bộ, Trung Quốc sẽ giành lợi thế rõ rệt trong các cuộc đối đầu với đồng minh và đối tác của Mỹ ở khu vực. Nếu Mỹ không thể đưa ra các biện pháp đối phó, diễn biến này làm gia tăng mối lo ngại bị bỏ mặc của các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan dẫn đến việc họ sẽ có những khoản đầu tư không cần thiết, thực thi các chiến lược quốc phòng bất lợi thậm chí là xung đột đối với lợi ích của Mỹ.

Xu hướng Cạnh tranh tại vùng Biển-Xanh trong Tương lai giữa Mỹ - Trung: Khi Trung Quốc và Mỹ cạnh tranh trên các vùng biển xanh, không gian mạng có thể là một mặt trận quan trọng. Với sự hiện diện mở rộng trên quy mô toàn cầu, Mỹ dễ bị tổn hại hơn so với Trung Quốc trong một cuộc chiến không gian mạng.

CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH

Đánh giá Nghiêm túc về Thách thức trên Biển tới từ Trung Quốc: Năng lực chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực của Trung Quốc đe dọa sự hiện diện của Mỹ ở Đông Á và năng lực biển-xanh của nước này có nguy cơ tạo ra cạnh tranh mới trên biển. Chính quyền hiện nay của Mỹ nên đánh giá kỹ lưỡng khả năng này; và hiểu rằng Mỹ cần tái định hình chính trị thế giới, toàn cầu hóa cuộc cạnh tranh an ninh Mỹ - Trung; điều chỉnh học thuyết chiến tranh và các kế hoạch chiến lược để đối phó với PLAN có năng lực toàn cầu.

Đáp trả Việc Trung Quốc Thao túng Cán Cân Rủi ro: Hành vi chấp nhận rủi ro của Trung Quốc đã tạo một số lợi thế chiến lược cho Bắc Kinh khi đối đầu với một nước Mỹ dè chừng rủi ro. Để giải quyết sự bất đối xứng này, và đảm bảo rằng sự hiện diện của Mỹ ở khu vực không phải chỉ là để đối phó với Trung Quốc, Mỹ nên ngừng công bố trước các hoạt động tự do hàng hải, tiếp tục hoạt động của tàu sân bay bên trong Chuỗi Đảo thứ Nhất và triển khai tàu chiến thường xuyên ở Biển Đông.

Đầu tư Tăng cường Năng lực Biển của Mỹ: Mỹ cần đảm bảo rằng lực lượng hải quân biển-xanh và các binh chủng khác có đủ quy mô và chất lượng để đối phó với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân. Trước việc PLAN có kế hoạch sẽ sở hữu 500 tàu vào năm 2030, Hải quân Mỹ cần lên kế hoạch sở hữu ít nhất 350 tàu. Mỹ cần củng cố năng lực cho Quân đội, Hải quân, Không quân để đáp ứng các nhiệm vụ phối hợp tác chiến trên biển.

Duy trì và Đa dạng Hóa Lực lượng Mỹ Triển khai Tuyến Đầu ở Châu Á: Cam kết về sự hiện diện tuyến đầu của quân đội Mỹ ở Châu Á sẽ trấn an các đồng minh, ngăn chặn Trung Quốc, và duy trì ảnh hưởng ở các tuyến đường biển huyết mạch. Để củng cố vị thế này, Mỹ có thể phải bổ sung các tàu đồn trú ở Guam và Hàn Quốc. Mỹ cũng nên tăng cường sự hiện diện về phía nam tới khu vực IOR bằng việc nâng cấp căn cứ Diego Garcia và đàm phán các thỏa thuận luân phiên quân ở Úc và Ấn Độ cùng các nước khác.

Thích ứng và Củng cố Hệ thống Đồng minh và Đối tác của Mỹ: Để giải tỏa những lo ngại của đồng minh, Mỹ nên tiếp tục tham vấn thường xuyên, tăng cường sự hiện diện của các lực lượng tuyến đầu và khuyến khích các nước này chia sẻ gánh nặng. Hệ thống đồng minh có thể được củng cố bằng việc tăng cường kết nối và tương tác nhiều hơn giữa các đồng minh và đối tác. Cuối cùng, việc mở rộng hợp tác và đối thoại an ninh với các nước đối tác ở IOR, đặc biệt là Ấn Độ, sẽ giúp Mỹ điều chỉnh lối hành xử trên biển của Trung Quốc.

Tìm kiếm Các Lĩnh vực Hợp tác: Mỹ nên thúc đẩy hợp tác với PLAN về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai, chống cướp biển và các sứ mệnh tương tự. Khi tìm kiếm những cơ hội hợp tác như vậy, Mỹ nên khuyến khích Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước Châu Á khác tham gia vì các hoạt động như vậy không chỉ mang tính chất song phương.

Tham gia và Tăng cường Các Thể chế Đa phương: Hướng nguồn lực của Trung Quốc vào các hợp tác an ninh đa phương mang tính xây dựng. Mỹ nên tham gia vào các tổ chức đa phương, bao gồm các sáng kiến ​​của Trung Quốc như “Một Vành đai, Một Con đường” cũng như các sáng kiến ​​không phải Trung Quốc đưa ra ở IOR và Đông Á.

 CHƯƠNG 1

Giới thiệu

TRUNG QUỐC NỔI LÊN NHƯ MỘT CƯỜNG QUỐC BIỂN TOÀN CẦU

Mỹ đã thống trị các vùng biển xanh của thế giới trong nhiều thập kỷ. Cụm từ “Hải quân biển-xanh” thường dùng để chỉ một lực lượng có khả năng hoạt động trên khắp đại dương và các vùng biển sâu. Tuy nhiên, với sự trỗi dậy của Trung Quốc, ưu thế độc tôn của hải quân Mỹ ngày càng bị thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc biển theo đúng nghĩa của nó, cụ thể là có năng lực triển khai sức mạnh và tác chiến phức hợp, sẽ làm thay đổi cơ bản môi trường chính trị Châu Á và ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ và các nước đồng minh và đối tác. Đến năm 2030, lực lượng hải quân Trung Quốc (PLAN) có khả năng hoạt động toàn cầu [từ đây gọi là PLAN toàn cầu] sẽ là một thực tế chính trị quốc tế quan trọng, mang tính nền tảng và có tầm ảnh hưởng lớn. Do đó, điều cấp bách hiện nay là các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh phải dự báo và đề ra phương án đối phó những tác động từ việc Trung Quốc tăng cường năng lực biển-xanh.

Trung Quốc đã đạt được những năng lực này một cách hệ thống. Nhìn chung, Bắc Kinh hạn chế đầu tư vào năng lực triển khai sức mạnh, và nói rõ rằng họ sẽ không thiết lập căn cứ ở nước ngoài cũng như các liên minh quân sự. Tuy nhiên, bất chấp những hạn chế này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn luôn ấp ủ về lực lượng hải quân biển-xanh.

Khát vọng về hải quân biển-xanh của Bắc Kinh bắt đầu từ đầu những năm 1980 khi Đô đốc Lưu Hoa Thanh, nguyên Tư Lệnh của PLAN và sau đó là ủy viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc, đưa ra kế hoạch ba giai đoạn với mục tiêu xây dựng lực lượng PLAN toàn cầu được trang bị tàu sân bay và khả năng viễn chinh.[1] Trong những thập kỷ qua, chiến lược hải quân của Trung Quốc đã có bước phát triển từ việc chỉ tập trung vào khu vực bờ biển những năm 1970 tới các vùng biển gần trong những năm 1980 và cuối cùng là hướng tới những vùng biển xa. Nhu cầu về lực lượng biển xanh của Trung Quốc đã trở nên cấp bách từ hơn một thập kỷ trước, nhưng chỉ được tuyên bố chính thức nhất vào năm 2015 khi sách trắng của chính phủ, Chiến lược Quân sự của Trung Quốc, xác định mục tiêu đưa PLAN trở thành một "lực lượng mạnh trên biển" hiện diện “ở khắp mọi nơi trên thế giới."[2]

Tuy nhiên, bên cạnh các tuyên bố và báo cáo, chính hành động của Trung Quốc - đặc biệt là kế hoạch đầu tư dài hạn cho các năng lực quân sự mới - mới thúc đẩy chiến lược cường quốc biển trở thành hiện thực. Trên thực tế, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, PLAN liên tục đầu tư vào chương trình hiện đại hóa quân sự với mục tiêu biến một đất nước có lịch sử chỉ tập trung vào lục địa trở thành một cường quốc biển. Trong lịch sử, Trung Quốc tập trung vào ba vùng biển gần (san hai), nhưng hiện tại nước này đang hướng tới chiến lược "hai đại dương". Điều này cho phép Trung Quốc thách thức Mỹ ở cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Để đạt mục tiêu đó, Trung Quốc đã tái cơ cấu PLAN, nâng tầm quan trọng của Hạm đội Nam Hải, đầu tư vào các nền tảng triển khai sức mạnh như tàu sân bay, tàu đổ bộ chở trực thăng, xây dựng tiền đồn quân sự ở Biển Đông, xây dựng căn cứ ở Djibouti - căn cứ quân sự đầu tiên của Trung Quốc ở ngoài lãnh thổ, và đầu tư mạnh vào phát triển các loại vũ khí chống tiếp cận/chống xâm nhập cũng như năng lực mạng và năng lực ngoài không gian. Những năng lực mới này cần nhiều thập kỷ để hình thành nhưng cuối cùng sẽ đạt tới mức cho phép Trung Quốc hoạt động ở các đại dương mở.

Sự hiện diện trên biển ngày càng tăng làm thay đổi hình ảnh và thậm chí cả lợi ích và mục tiêu của Trung Quốc. Bắc Kinh từ lâu tuyên bố sẽ tránh vết xe đổ mà các siêu cường từng mắc khi chuyển đổi sức mạnh kinh tế thành sức mạnh quân sự, nhưng việc nước tập trung đầu tư vào xây dựng lực lượng hải quân biển-xanh - có khả năng hoạt động rộng khắp và bên ngoài một khu vực đại dương - cho thấy tham vọng quân sự của nước này thực sự nghiêm túc. Nói tóm lại, lực lượng hải quân toàn cầu của Trung Quốc có thể là thực tế thay đổi cấu trúc chính trị trong giai đoạn tới. Điều này đòi hỏi các nhà chiến lược quốc phòng và hoạch định chính sách trên thế giới cần nghiên cứu kỹ lưỡng.

Báo cáo này giúp các nhà chiến lược quốc phòng và hoạch định chính sách hiểu rõ hơn tác động của việc Trung Quốc phát triển sức mạnh hải quân. Chương hai của báo cáo phân tích các nỗ lực xây dựng lực lượng hải quân toàn cầu của Trung Quốc, một ngày nào đó sẽ cạnh tranh với Mỹ ở những vùng biển quan trọng nhất trên thế giới. Chương này đánh giá sự phát triển trong chiến lược hải quân Trung Quốc, quá trình hiện đại hóa hải quân để hoạt động viễn dương, và cuối cùng là các nhiệm vụ lực lượng hải quân toàn cầu có thể đảm nhiệm. Chương ba tập trung vào cách thức Trung Quốc triển khai năng lực hải quân ở các khu vực khác, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Trung Đông. Chương này cũng xem xét lợi ích của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương, ảnh hưởng chính trị và kinh tế của nước này ở đây, và cách thức đầu tư quân sự của Trung Quốc có thể tương tác tích cực hoặc cạnh tranh với sức mạnh hải quân Mỹ. Chương thứ tư đánh giá cách thức năng lực biển xanh của Trung Quốc tác động trực tiếp đến các nước đồng minh và đối tác của Mỹ. Điều có vẻ nghịch lý nhưng rất quan trọng là năng lực biển-xa của Trung Quốc sẽ phát huy ảnh hưởng ở vùng biển-gần đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Chương này sẽ phân tích những tác động, hạn chế địa lý ở vùng biển gần đối với nỗ lực phát triển hải quân biển-xanh của Trung Quốc, và khả năng Nhật Bản sẽ đáp trả bằng việc phát triển hải quân biển-xanh. Chương năm đánh giá tương lai cạnh tranh của hải quân biển xanh Trung - Mỹ. Chương này đặc biệt quan tâm đến cách thức cạnh tranh không gian mạng định hình cuộc cạnh tranh trên biển xanh. Chương sáu và cũng là chương cuối cùng sẽ đưa ra các khuyến nghị cụ thể với mục đích thúc đẩy các cuộc thảo luận mang tính xây dựng về chính sách và về chiến lược dài hạn trong chính quyền Trump, trong Quốc hội Mỹ, ở Nhật Bản và các nước đồng minh và đối tác khác của Mỹ.

CHƯƠNG 2

Sự Phát triển của Hải quân Trung Quốc

CHIẾN LƯỢC, NĂNG LỰC VÀ CÁC NHIỆM VỤ CỦA PLAN TOÀN CẦU

Khi Trung Quốc trỗi dậy, các nhà lãnh đạo nước này muốn xây dựng một lực lượng hải quân tương xứng với vị thế quốc gia và lợi ích ngày càng mở rộng.[3] Một phần trong nỗ lực này là việc Trung Quốc tích cực mở rộng quy mô hải quân. Nước này nhanh chóng trở thành một trong những nước đóng tàu hàng đầu thế giới, trên cơ sở kết hợp giữa các công ty tư nhân và nhà máy quốc doanh, và cả gian lận thương mại để duy trì tốc độ hiện đại hóa hải quân nhanh chóng của mình.[4] Những biện pháp mạnh mẽ này đem lại những thành công đáng kể và hải quân Trung Quốc giờ đây có lẽ đã là lực lượng lớn thứ hai thế giới. Đến năm 2015, Trung Quốc ước tính sở hữu hạm đội gồm 330 tàu mặt nước và 66 tàu ngầm. Đến năm 2030, nếu xu hướng hiện tại hóa này tiếp tục duy trì, Trung Quốc sẽ có một hạm đội gồm 432 tàu mặt nước và 99 tàu ngầm - lớn hơn nhiều so với hạm đội của Mỹ.[5]

Câu chuyện hiện đại hóa hải quân Trung Quốc không chỉ là cải thiện số lượng mà còn là nâng cao đáng kể chất lượng. Từ năm 2000, Trung Quốc tập trung ngày càng nhiều vào năng lực biển-xanh, bắt đầu bằng việc thử nghiệm sứ mệnh biển-xanh ở Chuỗi Đảo thứ Nhất và thứ Hai trước khi tiến tới triển khai hoạt động phức tạp và thường xuyên hơn ở vùng biển xa.[6] Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đầu tư phát triển những năng lực cần thiết cho việc triển khai sức mạnh biển-xanh và đổ bộ ở các vùng biển xa. Một nhà quan sát Mỹ đã viết:

Trung Quốc đang xây dựng các thành tố trong triển khai sức mạnh - không quân của tàu sân bay, tên lửa tấn công hành trình trang bị cho tàu khu trục đa nhiệm, và các lực lượng đổ bộ - khi hợp thành lực lượng tác chiến có sức mạnh rất đáng tin cậy. Đến năm 2020, Trung Quốc sẽ có năng lực đổ bộ hiện đại thứ hai thế giới (sau Mỹ), và có khả năng triển khai được từ 5.000-6.000 lính thủy đánh bộ cho các hoạt động ở mọi nơi trên thế giới.[7]

Xu hướng này đánh dấu sự thay đổi cơ bản trong chính trị thế giới, khi hải quân Trung Quốc có khả năng triển khai sức mạnh và tiến hành đổ bộ như Hải quân Mỹ trên các vùng biển mở. Chương này phân tích sự phát triển nhanh chóng của hải quân Trung Quốc theo ba phần: (1) phân tích sự phát triển trong chiến lược hải quân Trung Quốc; (2) quá trình hiện đại hóa hải quân hiện nay của Trung Quốc; (3) và triển vọng tương lai của các sứ mệnh hải quân Trung Quốc.

Sự phát triển trong chiến lược của PLAN

Trong lịch sử hiện đại, chiến lược và sứ mệnh hải quân của Trung Quốc đã mở rộng đáng kể, với mỗi thay đổi đi kèm trách nhiệm mới cũng như các yêu cầu tác chiến và năng lực mới. Cho đến những năm 1970, PLAN chủ yếu triển khai chiến lược "phòng thủ biển gần" giới hạn ở các khu vực ven biển. Trung Quốc thời điểm đó chỉ lên kế hoạch cho kịch bản trong đó chiến tranh trên bộ lan rộng ra khu vực ven biển. Cụ thể, nước này lo ngại rằng Liên Xô sẽ áp dụng chiến thuật đổ bộ ven biển khi xảy ra chiến tranh quy mô lớn trên đất liền.[8]

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

VỀ CÁC TÁC GIẢ

Tiến sĩ Patrick M. Cronin là Cố vấn Cấp cao và Giám đốc Cấp cao của Chương trình An ninh Châu Á - Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS). Trước đó, ông là Giám đốc Cấp cao của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc gia (INSS) tại Đại học Quốc phòng Quốc gia. Tại đây ông cũng đồng thời phụ trách Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề quân sự Trung Quốc. Tiến sĩ Cronin đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề khác nhau liên quan tới an ninh tại Châu Á - Thái Bình Dương, chính sách đối ngoại/quốc phòng Mỹ, và chính sách phát triển. Trước khi phụ trách INSS, TS. Cronin đảm nhiệm vị trí Giám đốc Nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại London. Trước khi công tác tại IISS, TS. Cronin là Phó Chủ tịch Cấp cao và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS). Năm 2001, TS. Cronin được bổ nhiệm làm Trợ lý Điều hành phụ trách Điều phối Chính sách và Chương trình - đây cũng là vị trí lãnh đạo thứ ba tại Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ. Tại đây ông phụ trách nhóm chuyên trách trong công tác xây dựng văn bản "Các thách thức Thiên niên kỷ cho Doanh nghiệp".

TS. Mira Rapp-Hooper là Học giả Cấp cao thuộc Chương trình Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương tại CNAS. Lĩnh vực chuyên môn của bà bao gồm các vấn đề an ninh tại Châu Á, chính sách và chiến lược răn đe, hạt nhân và chính trị liên minh. Trước đó bà là Học giả thuộc Chương trình Châu Á tại CSIS và là Giám đốc của Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) của CSIS. Bà cũng là Học giả Chương trình An ninh Hạt nhân Stanton tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại. TS. Rapp-Hooper là Học giả thuộc Chương trình Chính sách đối ngoại Ngắt quãng (Foreign Policy Interrupted) và Học giả David Rockefeller tại Uỷ ban Ba bên (Trilateral Commission).

Harry Krejsa là Học giả cộng tác tại Chương trình An ninh Châu Á - Thái Bình Dương tại CNAS. Ông Krejsa trước đây là chuyên gia phân tích chính sách cho Uỷ ban Kinh tế Chung của Quốc hội là nghiên cứu viên thuộc trung tâm Nghiên cứu các vấn đề quân sự Trung Quốc tại Đại học Quốc phòng Quốc gia. Ông cũng đã thực hiện một hoạt động nghiên cứu thực địa về chuyển giao chính trị tại Myanmar, mô phỏng các chương trình tập huấn chống khủng bố cho các quốc gia Đông Nam Á, và là Học giả Fulbright tại Đài Loan.

Alex Sullivan là Học giả Cộng tác tại Chương trình An ninh Châu Á - Thái Bình Dương tại CNAS. Tại đây ông tập trung nghiên cứu về quan hệ Mỹ - Trung, an ninh biển, hiện đại quân sự tại khu vực, và vai trò của năng lượng trong địa chính trị. Ông Sullivan cũng là nghiên cứu sinh tại Khoa Chính phủ tại Đại học Georgetown. Ông tập trung nghiên cứu về chính sách đối ngoại Mỹ, đàm phán quốc tế, an ninh quốc tế và khía cạnh kinh tế chính trị của chiến tranh.

Rush Doshi là Học giả Raymond Vernon thuộc chương trình nghiên cứu sinh về chính phủ của Đại học Harvard. Luận án tiến sĩ của ông tập trung vào giải thích biến số trong Đại chiến lược của Trung Quốc sau Chiến tranh Lạnh. Những vấn đề mà ông nghiên cứu bao gồm chính sách đối ngoại của Ấn Độ và Trung Quốc (ông có thể sử dụng thành thạo tiếng Quan Thoại và tiếng Hindi), và các sản phẩm nghiên cứu của ông đã được xuất bản trên The Wall Street Journal và các ấn phẩm khác. Trước đây ông Doshi là nhà phân tích thuộc Nhóm Chiến lược Dài hạn, tại đây ông tập trung vào các vấn đề an ninh tại Châu Á – Thái Bình Dương; trước đó, với vai trò là nhà phân tích tại tổ chức Các cố vấn Toàn cầu Rock Creek, ông nghiên cứu về các vấn đề kinh tế quốc tế; ông cũng tham gia tư vấn cho Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng, tham gia nghiên cứu tại Học viện Hải chiến, và là Học giả Arthur Liman tại Bộ Ngoại giao. Ông Doshi cũng là Học giả Fulbright tại Trung Quốc trong một năm, tại đây ông nghiên cứu về quan hệ Trung - Ấn. Ông tốt nghiệp Trường Woodrow Wilson, Đại học Princeton với ngành phụ là nghiên cứu Đông Á.

Báo cáo được đăng trên Chương trình An ninh Châu Á - Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS).

Yến Tiệp (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Trích trong Srikanth Kondapalli, “China’s Naval Strategy,” Strategic Analysis, số 23 ngày 12/4/2008.

[2] China’s Military Strategy (Beijing: State Council Informa- tion Office, tháng 5/2015), https://news.usni.org/2015/05/26/ document-chinas-military-strategy. Bernard D. Cole đưa ra điểm này, China’s Quest for Great Power: Ships, Oil, and Foreign Policy (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 2016), 5.

[3] Chuẩn Đô đốc Michael McDevitt, USN (Đã nghỉ hưu), Becoming a Great ‘Maritime Power:’ A Chinese Dream (Arlington, VA: Center for Naval Analyses, tháng 6/2016), 25.

[4] Andrew S. Erickson, chủ biên, Chinese Naval Shipbuilding: An Ambitious and Uncertain Course (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 2016), 7.

[5] James E. Fanell và Scott Cheney-Peters, “Maximal Scenario: Expansive Naval Trajectory to ‘China’s Naval Dream,’” trong Erickson, Chinese Naval Shipbuilding, 270.

[6] Tlđd, 262.

[7] McDevitt, Becoming a Great ‘Maritime Power,’ v.

[8] Christopher P. Carlson và Jack Bianchi, “Warfare Driv- ers: Mission Needs and the Impact of Ship Design,” trong Erickson, Chinese Naval Shipbuilding, 21.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7674 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin