23 - 4 - 2019 | 7:03
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Email In PDF.

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Quan hệ Ấn Độ-Việt Nam đã được nâng lên tầm cao mới với chuyến thăm thành công của Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến Ấn Độ từ 2-4/3, trong đó một số thỏa thuận quan trọng đã được ký kết. Đây là chuyến thăm đầu tiên của ông tới Ấn Độ với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam. Tháp tùng Chủ tịch nước là phái đoàn 18 thành viên, trong đó có Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông. Chuyến thăm cũng được đánh dấu bởi những bản ghi nhớ (MoU) mang tính bước ngoặt trong hợp tác hạt nhân dân sự và phát triển cảng. Điều này cho thấy Hà Nội hoan nghênh quan hệ đối tác quốc phòng với Ấn Độ. 

Trước động thái hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, Ấn Độ và Việt Nam đều xác định an ninh hàng hải là một trong những lĩnh vực chủ chốt mà họ cần hợp tác. Ba hiệp định quan trọng đã được ký kết, trong đó có một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân, những thỏa thuận đạt được sẽ thúc đẩy thương mại và nghiên cứu nông nghiệp giữa hai nước. Hai bên cũng đã ký bản ghi nhớ về hợp tác giữa Trung tâm năng lượng hạt nhân toàn cầu (GCNEP) của Ấn Độ và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch Trần Đại Quang nhằm tăng cường hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình. Năm 2016, Ấn Độ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân dân sự và bản ghi nhớ lần này sẽ tăng cường khả năng hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu. 

Biển Đông là một điểm nóng chính tiềm ẩn nguy cơ gây ra xung đột lớn. Trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như hoàn toàn đối với khu vực này, một số quốc gia khác cũng tuyên bố chủ quyền đối với một số phần dẫn tới chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế. Mặc dù Ấn Độ không liên quan trực tiếp đến tuyên bố chủ quyền tại khu vực, nhưng nước này lại quan tâm nhiều đến hoạt động của Trung Quốc trong việc kiểm soát khu vực không gian đại dương là nơi giao thương hàng hóa trị giá hàng nghìn tỷ USD mỗi năm này. Ấn Độ cũng có lợi ích kinh tế riêng khi tham gia cùng Việt Nam thăm dò dầu khí ở khu vực ngoài khơi bờ biển Việt Nam thuộc Biển Đông. Dự án được Tập đoàn ONGC Videsh của Ấn Độ và Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) thực hiện. Ấn Độ sẽ không ngồi yên và không thể không can thiệp để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình nếu lợi ích này bị một nước thứ ba đe dọa. Đây chính là lý do cho nền tảng hợp tác chung Ấn Độ-Việt Nam. Tuyên bố chung cho biết Chủ tịch nước Trần Đại Quang hoan nghênh các doanh nghiệp Ấn Độ mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên đất liền, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 

Trung Quốc phản đối nhưng điều đó không có giá trị pháp lý đối với các hoạt động thăm dò dầu khí của Ấn Độ. Tháng 1/2018, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản ứng với lời mời của Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ về việc tăng cường các dự án thăm dò chung tại khu vực chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc cảnh báo Ấn Độ rằng sự tham gia của Ấn Độ vào các dự án không được coi là "cái cớ để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông và làm tổn hại hòa bình và ổn định ở khu vực". Nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc, Thủ tướng Modi tuyên bố Ấn Độ và Việt Nam sẽ không chỉ tăng cường quan hệ song phương trong lĩnh vực dầu khí mà sẽ còn "làm việc cùng các nước khác về các khả năng ba bên" trong lĩnh vực hàng hải. Có thể suy đoán rằng ông Modi đã nghĩ đến Nhật Bản với sự hội tụ lợi ích của ba nước này trong các vấn đề an ninh khu vực. Vì vậy, cả Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang đều bày tỏ cam kết đảm bảo duy trì tôn trọng chủ quyền và luật pháp quốc tế. Đây rõ ràng là một sự liên hệ gián tiếp đến những hoạt động liên tục của Trung Quốc chống lại các quốc gia láng giềng trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Đối với Ấn Độ, Việt Nam có một vị trí quan trọng đối với chính sách "Hành động phía Đông" trong khuôn khổ tổng thể các mối quan hệ của Ấn Độ với 10 quốc gia ASEAN. 

Cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho thấy hai bên đã dựa trên những tuyên bố trước đây về an ninh hàng hải ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và nhắc lại tầm quan trọng của các tuyến đường biển tự do và rộng mở. 

Mặc dù không có thỏa thuận nào được ký kết trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng nhưng hai nước dự kiến sẽ tiếp tục làm việc để hoàn thành việc giải ngân gói tín dụng 100 triệu USD mà Ấn Độ cam kết dành cho Việt Nam, trong đó có việc sử dụng để mua sắm thiết bị tuần tra ngoài khơi (OPV) trong khi vẫn tiếp tục đàm phán về hệ thống tên lửa đất đối đất và đất đối không Akash (SR-SAM) và máy bay trực thăng tiên tiến hạng nhẹ ALH Dhruv. Việt Nam cũng từng nhiều lần thể hiện mong muốn mua các tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ. Cả Thủ tướng Modi và Chủ tịch nước Trần Đại Quang đều nhất trí tăng cường khả năng hợp tác sản xuất và cơ hội chuyển giao công nghệ trong sản xuất quốc phòng. Sự hợp tác quân sự giữa quân đội hai nước cũng đang diễn ra. Hai nước cũng nhất trí tăng cường quan hệ trong các lĩnh vực khác nhau như năng lượng tái tạo, nông nghiệp, dệt may và xăng dầu. 

Hai bên cũng đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác kinh tế và thương mại nhằm thiết lập một cơ chế tăng cường xúc tiến kinh tế và thương mại. Về mặt thương mại, cả hai đang phấn đấu đưa thương mại song phương lên 15 tỷ USD vào năm 2020. Từ năm 2016-2017, kim ngạch thương mại song phương đạt mức 6,24 tỷ USD, tăng 40% so với năm trước. Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh cam kết của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực từ công nghệ thông tin đến cơ sở hạ tầng. Trong tuyên bố chung, hai bên đã nhất trí tổ chức cuộc họp tiếp theo của Tiểu ban thương mại hỗn hợp Việt Nam-Ấn Độ tại Hà Nội vào thời gian sớm nhất trong năm 2018. Tuyên bố chung cho biết: "Với mục tiêu phát huy mọi tiềm năng để tăng kim ngạch thương mại cả về giá trị và đa dạng các mặt hàng, hai bên nhất trí giao cho các cơ quan hữu quan hai nước tìm kiếm các biện pháp cụ thể và thiết thực nhằm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 15 tỷ USD vào năm 2020, bao gồm các biện pháp như: sử dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương đã thiết lập, tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc giữa các doanh nghiệp, chia sẻ thông tin, hạn chế áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại và hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của nhau, tổ chức thường xuyên các hội chợ, triển lãm ở mỗi nước". Hai nhà lãnh đạo đề nghị các doanh nghiệp hai bên tìm kiếm những cơ hội đầu tư kinh doanh mới trong những lĩnh vực hợp tác ưu tiên. 

Một kế hoạch làm việc giai đoạn 2018-2022 giữa Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cũng đã được ký kết. Mục đích của kế hoạch làm việc này là thúc đẩy hợp tác trong việc chuyển giao công nghệ và trao đổi của các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam đồng ý xem xét đề nghị của Ấn Độ về việc ký Hiệp định khung của Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. 

Khi Thủ tướng Modi thăm Việt Nam vào năm 2016, "quan hệ đối tác chiến lược" Ấn Độ-Việt Nam đã được nâng lên thành "đối tác chiến lược toàn diện". Chủ tịch nước Trần Đại Quang cam kết tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác này. Năm 2016, Thủ tướng Modi đã thông báo tài trợ 5 triệu USD cho Việt Nam xây dựng Công viên Phần mềm quân đội tại Đại học Viễn thông ở Nha Trang. Một khoản tín dụng 100 triệu USD cũng đã sẵn sàng được giải ngân cho 8 tàu tuần tra ngoài khơi Việt Nam. Tháng 2/2018, quân đội hai nước đã lần đầu tiên thực hiện cuộc tập trận chung. Việt Nam cũng mua thiết bị quân sự cho hải quân và không quân của mình. Tuy nhiên, dù Việt Nam tỏ ra quan tâm đến việc mua tên lửa siêu thanh Brahmos của Ấn Độ nhưng thỏa thuận này không có nhiều tiến triển. Các cuộc đàm phán về các điều khoản và điều kiện vẫn đang được tiến hành. 

Thực tế một phái đoàn gồm 65 doanh nhân đến từ 34 công ty của Việt Nam tháp tùng Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Ấn Độ và tiếp xúc với các doanh nhân Ấn Độ nổi tiếng cho thấy Việt Nam đang muốn tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại với Ấn Độ. Liên quan đến lĩnh vực thương mại, trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ nhiều sản phẩm chế tạo như điện thoại di động, máy móc và máy tính, thì hàng xuất khẩu của Ấn Độ vào thị trường Việt Nam bao gồm máy móc, nguyên liệu dệt, hải sản và thuốc. Bất chấp nỗ lực của cả hai bên, giá trị thương mại đã không đạt như mong đợi. 

Ấn Độ vẫn tiếp tục là một trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Mặc dù tổng giá trị thương mại song phương thấp hơn mức mong muốn nhưng trong thập kỷ qua trung bình mỗi năm đã tăng 16% và đây là một thành tựu. Nhiều công ty lớn của Ấn Độ đã thiết lập và mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Cũng không thể bỏ qua thực tế là Ấn Độ đã ưu tiên cho Việt Nam trong hợp tác phát triển, giáo dục đào tạo và tập trung vào các lĩnh vực như khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông. 

Đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam vẫn còn rất thấp. Ấn Độ đứng thứ 28 trong số 126 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam trong năm 2017 với 168 dự án và tổng vốn đăng ký 756 triệu USD. Nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ, bao gồm Tata, ONGC và Essar đã tạo được danh tiếng ở Việt Nam. Việt Nam kỳ vọng thêm các khoản đầu tư từ Ấn Độ để đạt được mục tiêu thương mại song phương đạt 15 tỷ USD vào năm 2020. Sức mạnh của Ấn Độ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, sản xuất, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng có thể sức hấp dẫn đối với Việt Nam. Cả hai nước cần tăng cường kết nối song phương và khu vực cũng như kết nối cơ sở hạ tầng như liên kết hàng không, đường bộ, kết nối hàng hải và kết nối số. Dưới "Chính sách hướng Đông" của Thủ tướng Modi, lĩnh vực này là những dự án được ưu tiên và sẽ góp phần đóng góp cho mối quan hệ hai bên cùng có lợi khi các nguồn năng lượng của hai nước được giải phóng. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nên được xem xét từ quan điểm này.

Giáo sư Rajaram Panda thuộc Hội đồng quan hệ văn hóa Ấn Độm hiện giảng dạy tại Đại học Reitaku Nhật Bản. Bài viết được đăng trên Daily Piooner.

Trần Quang (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7676 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin