21 - 10 - 2018 | 22:21
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Email In PDF.

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

 

 

Dẫn giải

Trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, sự phụ thuộc ngày càng tăng về kinh tế đã cho phép Bắc Kinh xét lại bản chất của các mối quan hệ quốc tế và một trật tự dựa trên nguyên tắc lấy sự tuân thủ luật pháp dựa trên hiệp ước quốc tế làm nền tảng. Việc Mỹ phớt lờ khu vực này sau cuộc chiến chống khủng bố của họ và sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 cũng tạo điều kiện cho sự dịch chuyển nhanh chóng có liên quan trong cán cân quyền lực chính trị và sức mạnh quân sự.

Bất chấp việc ngầm thừa nhận điều này thông qua chiến lược “xoay trục” và sau đó là chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ, sự “tái can dự” này đã bị xói mòn bởi chủ nghĩa hòa bình với Trung Quốc dưới thời Chính quyền Obama và sau đó là việc Tổng thống Trump đắc cử. Kết quả bao gồm việc củng cố các chính sách theo chủ nghĩa xét lại vi phạm luật pháp quốc tế, sự hăm dọa không bị kìm hãm đối với các nước khác trong khu vực, và sự suy giảm niềm tin vào chiếc ô an ninh của Mỹ. Cuối cùng, trật tự dựa trên nguyên tắc dần bị xói mòn, và một môi trường hỗn loạn và quân phiệt hơn đang lấp vào chỗ trống.

Thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh

Trật tự khu vực sụp đổ có lẽ bắt đầu bằng cuộc chiến chống khủng bố nhưng những quan điểm cạnh tranh nhau ở châu Á về Trung Quốc và Mỹ đã ngày càng bị phân cực kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008. Chính sách “gây cảm tình” ban đầu của Bắc Kinh kể từ đó đã bị thay thế bởi những hành động mang tính hăm dọa nhiều hơn, và vấn đề gây chia rẽ lớn nhất, ít nhất là đối với Đông Á, là những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Bất chấp sự can dự của ASEAN kể từ năm 1992, Trung Quốc phần lớn đã vi phạm đáng kể các chuẩn mực theo Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) của ASEAN năm 2002 và sau đó nước này cũng vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) thông qua những hoạt động như xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo trên quy mô lớn.

Trong phạm vi khu vực, việc Trung Quốc chiếm lấy bãi cạn Scarborough từ tay Manila vào năm 2012 là một “sự kiện mang tính bước ngoặt”. Nỗ lực của Chính quyền Obama trong việc thương thuyết để Bắc Kinh và Manila rút khỏi bãi cạn này đã thất bại. Tuy nhiên, điểm xoay trục cuối cùng là việc Bắc Kinh nhanh chóng xây dựng các đảo nhân tạo có diện tích gần 1.300 hecta từ đầu năm 2013.

Bất chấp việc một bài báo của Philippines ngày 31/7/2013 lần đầu tiên đề cập đến khả năng cải tạo đất, phải đến tháng 2/2015 hình ảnh toàn diện về các đảo nhân tạo mới được công khai. Vào thời điểm này, Mỹ và các đồng minh của họ, dù vô tình hay cố ý, đã phớt lờ áp lực quốc tế yêu cầu họ phải ngăn chặn hành động xây dựng đảo – chẳng hạn như phong tỏa bằng hải quân – khi vấn đề xây dựng đảo vào thời điểm đó là sự đã rồi.

Kiềm chế hay tạo điều kiện?

Chính phủ Trung Quốc và truyền thông nhà nước tuyên bố rằng Bắc Kinh là nạn nhân của các chính sách kiềm chế phi lý của Mỹ và đồng minh. Họ chỉ ra những diễn biến như việc đồn trú lực lượng lính thủy đánh bộ ở Darwin và sau đó là các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ ở Biển Đông. Tuy nhiên, hầu như không có sự kiềm chế hữu hình nào đối với hành vi của Bắc Kinh.

Đối với một số quốc gia châu Á, việc cộng đồng quốc tế không đưa ra được hành động kiên quyết nhằm ngăn chặn những vi phạm trắng trợn của Bắc Kinh đối với luật pháp quốc tế và trật tự dựa trên nguyên tắc thậm chí còn đáng chú ý hơn so với việc Bắc Kinh thực sự vi phạm UNCLOS.

Tổn thất có thể có ở Biển Đông  – trong mọi kịch bản chưa đến mức chiến tranh – đối với tất cả các bên hữu quan đã được phản ánh trong các tuyên bố công khai từ các sĩ quan quân đội cấp cao tại nhiệm và mãn nhiệm của Mỹ và Úc.

Củng cố sự chống đối hay đầu hàng?

Đầu năm 2017, những hành động khiêu khích của Trung Quốc đã buộc Úc và Ấn Độ phải đưa ra những lập trường ngày càng cứng rắn. Chẳng hạn, tại Đối thoại Shangri-La vào tháng 6/2017, Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull đã tuyên bố rằng khu vực này phải duy trì “cấu trúc dựa trên nguyên tắc” và “điều này đồng nghĩa với việc hợp tác, chứ không phải là… chiến thắng thông qua tham nhũng, can thiệp hoặc hăm dọa”. Trong trường hợp của Ấn Độ, tác giả đã ở New Delhi một tuần sau đó và trong suốt cuộc đối đầu đang diễn ra tại Doklam, nơi lập trường của Ấn Độ về Trung Quốc trở nên cứng rắn theo từng tuần.

Do vậy, cuối năm 2017, Ấn Độ, Úc, Nhật Bản và Mỹ đã nhất trí khôi phục Đối thoại an ninh bốn bên (Bộ Tứ 2.0); việc nhắc lại lần đầu tiên đối thoại này đã sụp đổ vào năm 2008 khi Úc rút khỏi các cuộc tập trận Malabar sau khi Trung Quốc gây áp lực. Cuộc họp đầu tiên giữa các quan chức cấp cao của Bộ Tứ 2.0 đã được tổ chức vào tháng 11/2017, và nội dung các cuộc thảo luận bao gồm cả việc duy trì trật tự dựa trên nguyên tắc, an ninh biển và quyền tự do hàng hải và hàng không. Tuy nhiên, thiếu sự nhất trí về các vấn đề then chốt để đưa ra một thông cáo chung.

Vấn đề là năm 2018 đã xuất hiện những dấu hiệu lẫn lộn về mức độ cam kết với Bộ Tứ và mức độ phản kháng đối với những vi phạm của Bắc Kinh. Tháng 4/2018, Thủ Tướng Modi đã có cuộc gặp thượng đỉnh với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh 3 bên giữa các nhà lãnh đạo của Nhật Bản, Hàn Quốc và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hai tuần sau đó. Cả hai cuộc gặp này đều sử dụng ngôn từ nồng ấm hơn một cách đáng chú ý và truyền thông nhà nước Trung Quốc tuyên bố rằng cuộc gặp thượng đỉnh 3 bên đã “đưa mối quan hệ lạnh nhạt giữa Trung Quốc và Nhật Bản trở lại đúng lộ trình”.

Thiếu vắng vai trò lãnh đạo kinh tế của Washington sau khi họ từ bỏ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (một khu vực thương mại tự do chiếm 40% GDP toàn cầu), Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đẩy nhanh các cuộc đàm phán về một Hiệp định thương mại tự do (FTA) lớn khác không bao gồm Mỹ - Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Hiện tại, có nhiều tranh cãi về tính thiết thực và tương lai của Bộ Tứ, nhưng thiếu vắng vai trò lãnh đạo đáng kể của Mỹ và/hoặc một “cú sốc” quốc tế để gắn kết 4 nước lại với nhau, Bộ Tứ sẽ không tác động rõ ràng đến phân tích phí tổn/lợi ích của Bắc Kinh. Chẳng hạn, trong thời gian diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh Ấn-Trung, New Delhi một lần nữa từ chối yêu cầu của Canberra tham gia trở lại các cuộc tập trận Malabar với tư cách là quan sát viên.

Trong khi đó, niềm tin của khu vực vào Mỹ đã bị xói mòn hơn nữa do Chính quyền Obama giảm bớt 19% ngân sách hỗ trợ an ninh cho Đông Nam Á (năm 2010-2015) và Tổng thống Trump vào năm 2018 tuyên bố ý định giảm bớt tổng ngân sách thêm 24,4%.

Trật tự hậu Chiến tranh thế giới thứ hai sụp đổ?

Trung Quốc đã chứng tỏ có năng lực rất lớn trong việc tự làm mới bản thân cả ở trong nước lẫn trên trường quốc tế và những thành tựu trong một vài thập kỷ qua, đối với một nước đông dân như vậy, là chưa từng có tiền lệ. Vì vậy, thách thức của Bắc Kinh đối với trật tự khu vực trong đó có vai trò lãnh đạo của Mỹ, các chuẩn mực và luật pháp quốc tế cũng vậy. Dựa trên quỹ đạo hiện tại, trật tự châu Á hậu Chiến tranh thế giới thứ hai đang trên bờ vực suy tàn.

Ngoài việc thiếu vắng vai trò lãnh đạo của Mỹ, sự lưỡng lự lớn hơn của khu vực trong việc ứng phó với các mối đe dọa khu vực đang gây bất ổn sâu sắc; điều này sẽ không thay đổi chừng nào không có một quan điểm hài hòa hơn nhiều về những mối đe dọa then chốt mà trật tự dựa trên nguyên tắc mang tính ổn định phải đối mặt. Trong khi đó, một cuộc chiến thương mại tiềm tàng sẽ làm suy yếu trật tự kinh tế tự do và gây bất ổn hơn nữa cho khu vực.

Những đánh giá cho rằng Biển Đông trên thực tế sắp mất về tay Bắc Kinh có thể gây tranh cãi; họ giả định không có thay đổi đáng kể nào trong cách tiếp cận của khu vực về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu khu vực này hợp tác mạnh mẽ với nhau nhằm thay đổi phân tích phí tổn/lợi ích của Bắc Kinh, thì có thể diễn ra thay đổi tích cực. Để đạt được mục tiêu này, Biển Đông cần một Bộ quy tắc ứng xử có ý nghĩa nhưng năng lực của ASEAN trong việc đàm phán về vấn đề này là điều còn phải bàn cãi.

Có thể làm gì?

Một nhóm nhỏ các nước ASEAN có thiện chí có lẽ cần đàm phán về Bộ quy tắc hoặc các nước tuyên bố chủ quyền chính thuộc ASEAN thay vào đó có thể đưa ra một Bộ quy tắc ứng xử với các nước có liên quan không thuộc ASEAN có vai trò then chốt và thể hiện nó như một sự đã rồi đối với Bắc Kinh. Còn cần rất nhiều điều nữa, trong đó có các FONOP và các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển đa quốc gia. Các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển đa quốc gia có thể kiểm soát và bảo vệ các nguồn lực trong khu vực không có tranh chấp “về mặt pháp lý” thuộc Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của một nước có thiện chí.

Những hoạt động này cũng có thể áp dụng trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Để đạt được mục đích này, cần phải có một cuộc đối thoại chiến lược giữa những bên ủng hộ trật tự dựa trên nguyên tắc. Dù được dẫn dắt bởi các chính phủ hay bởi các tổ chức tư vấn chiến lược khu vực theo Kênh 1.5 (như là bước đi đầu tiên), thì một cuộc đối thoại như vậy có thể giúp điều phối các hoạt động đa phương và là nền tảng cho việc phát đi tín hiệu mạnh mẽ hơn tới Bắc Kinh.

Hơn nữa, cuối cùng sẽ cần có một hiệp ước phòng thủ chung để đảm bảo cho các phản ứng tập thể trước những nỗ lực về mặt quân sự nhằm làm thay đổi nguyên trạng ở biển Hoa Đông, Đài Loan, biển Bắc Natuna và biên giới Ấn Độ.

Tiền lệ ở Biển Đông (và Crimea) sẽ khuyến khích hơn nữa các nước theo chủ nghĩa xét lại thực hiện thêm những hành động mang tính hăm dọa khi chính sách ngoại giao thất bại. Khu vực này không thể kỳ vọng Mỹ sẽ một mình bảo vệ châu Á; nếu các nước tuân thủ nguyên tắc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hành động cùng nhau thì điều đó có thể lôi kéo Mỹ tái can dự vào khu vực này một cách thực chất hơn và có tính xây dựng hơn. Thất bại trên mặt trận nào cũng sẽ phát đi tín hiệu tới Bắc Kinh rằng nước này được hưởng lợi từ các hành động hăm dọa và/hoặc các hành động quân sự trong tương lai ở các vũ đài khu vực khác.

Christopher Roberts là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á, Viện Phân tích Quản trị và Chính sách, Đại học Canberra, Úc. Bài viết được đăng trên RSIS.

Trần Quang (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7383 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin