20 - 11 - 2018 | 1:17
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Email In PDF.

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

 


  

Jeffrey McGee, Khoa Luật và Viện nghiên cứu biển và Nam cực, Đại học Tasmania, Úc. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Brendan Gogarty, Khoa Luật, Đại học Tasmania, Úc. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Danielle Smith, Nghiên cứu sinh, Khoa Luật, Đại học Tasmania, Úc. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

 

Tóm tắt

Những tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông gần đây được coi là biểu hiện của việc căng thẳng địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng. Từ đó, nhiều nhà hiện thực lập luận rằng, trong khi luật pháp quốc tế chỉ đóng vai trò thứ yếu, cân bằng quyền lực mới là nhân tố quyết định kết quả của các tranh chấp này. Nghiên cứu luật pháp quốc tế chính thống không đủ mạnh để phản biện bình luận vì nó hầu như đã bỏ qua mối quan hệ giữa luật pháp và quyền lực. Tuy nhiên, một số học giả hàng đầu trong lịch sử ngành luật quốc tế và quan hệ quốc tế từ lâu đã lập luận rằng “cân bằng quyền lực liên kết” giữa các quốc gia là điều kiện tiền đề cho việc vận hành hiệu quả luật quốc tế. Bài viết cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Từ khoá: Biển Đông-Công ước Luật biển (UNCLOS)-Luật quốc tế- Cân bằng quyền lực liên kết- Vụ Philippines kiện Trung Quốc.

I. Giới thiệu

Trong phán quyết mới đây của Toà Trọng tài về vụ Philippines kiện Trung Quốc[1] (gọi tắt là vụ kiện Biển Đông, vụ kiện được bắt đầu theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982[2]-UNCLOS), chúng ta có thể thấy nỗ lực sử dụng các quy định của Luật quốc tế để giải quyết tranh chấp tồn tại giữa hai quốc gia có các yêu sách khác nhau liên quan đến kiểm soát lãnh thổ và sử dụng các vùng biển tại Biển Đông. Vụ kiện Biển Đông được bình luận là một trong những phán quyết luật quốc tế đáng chú ý nhất trong thập kỷ qua. Lý do là vì Trung Quốc quyết định không chấp nhận thẩm quyền của toà và không tham gia vào thủ tục trọng tài. Phán quyết của Toà trọng tài thể hiện sự phản đối mạnh mẽ từ góc độ pháp lý đối với hầu hết các yêu sách của Trung Quốc về các quyền lãnh thổ đối với các thực thể trên biển Đông và những yêu sách rộng lớn hơn liên quan đến các quyền lịch sử tại khu vực được gọi là “đường chín đoạn[3]”.

Trung Quốc phản ứng đối với vụ kiện Biển Đông bằng việc lờ đi quá trình tố tụng và nội dung của phán quyết.[4] Trung Quốc đưa ra chất vấn về thiện chí (bona fides) của Toà Trọng tài và chỉ ra rằng Trung Quốc không tuân thủ phán quyết của Toà nhưng sẽ mở rộng hoạt động trên Biển Đông.[5] Trên thực tế, ngay sau khi Toà công bố Phán quyết, Trung Quốc đã tiến hành diễn tập hải quân tại khu vực với Nga.[6] Điều này vượt ra ngoài diễn biến thường thấy trong giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia.

Sẽ có nhiều bài viết cũng như phân tích của các luật sư quốc tế, bao gồm cả những tác giả tham gia số đặc biệt này, về vụ kiện trọng tài Biển Đông, cũng như việc áp dụng các chi tiết kỹ thuật liên quan tới việc áp dụng các quy định của luật quốc tế vào vụ kiện. Hàm ý trong việc phân tích tranh chấp Biển Đông từ góc độ của luật quốc tế là nếu Toà PCA làm đúng chức trách về mặt pháp lý của mình, theo đó, các quốc gia được khuyến khích đưa ra những lập luận pháp lý chính xác, các tranh chấp lãnh thổ có thể được giải quyết một cách hoà bình.

Bài báo thách thức giả thiết kể trên khi đặt ra câu hỏi về việc liệu rằng kỳ vọng quá cao đối với khả năng luật quốc tế có thể kiến tạo hoà bình trong bối cảnh hiện nay, có thể dẫn tới nguy cơ bỏ qua các bài học quan trọng trong quá khứ hay không. Áp dụng lăng kính “hiện thực” cho luật quốc tế, như cách định nghĩa của các học giả luật pháp và quan hệ quốc tế, bài viết đề xuất rằng cần xem xét các vấn đề căn bản về quyền lực cần được xem xét trước khi kỳ vọng luật quốc tế có thể đóng vai trò quan trọng trong giải quyết hoà bình các tranh chấp kể trên.

Bài viết công nhận rằng “quyền lực” là một khái niệm gây tranh cãi trong khoa học xã hội và có nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến việc liệu rằng khái niệm này chỉ thuần tuý liên quan tới khía cạnh vật chất hay còn bao hàm cả các vấn đề thuộc về tư duy.[7] Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra quan điểm rằng sức mạnh vật chất và tư duy có mối tương quan chặt chẽ với nhau, do đó tư duy về quyền lực mà chúng tôi dựa vào bao gồm “quyền lực cứng” (hard power, như sức mạnh quân sự và kinh tế) và “quyền lực mềm” (soft power như khả năng định hình chương trình hành động và các ý tưởng).[8] Việc xem xét xét các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông cần được xem xét trong bối cảnh có sự gia tăng đáng kể sức mạnh tương đối của Trung Quốc tại khu vực. Nhân tố đầu tiên thúc đẩy quá trình gia tăng sức mạnh quân sự  của Trung Quốc là tốc độ tăng trưởng và công nghiệp hoá nhanh chóng của nền kinh tế nước này với mức tăng hàng năm lên tới 10% tổng sản phẩm quốc nội từ năm 1979 đến năm 2014.[9] Điều này có nghĩa rằng  cứ sau tám năm, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc lại tăng lên gấp đôi.[10] Mặc dù đã chậm lại trong thời gian gần đây, tốc độ tăng trưởng thực của Trung Quốc vẫn đạt tới là 6,9% vào năm 2015[11], 6,7% vào năm 2016[12] và dự kiến là 6,2% vào năm 2017.[13] Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay, dự kiến nước này sẽ vượt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2026[14]. Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã tăng lên đáng kể, tính đến nay, Trung Quốc có mức chi tiêu quốc phòng quân sự hàng năm lớn thứ hai thế giới, chiếm 13% chi tiêu quân sự toàn cầu.[15] Sự tăng trưởng kinh tế đáng chú ý và mức tăng năng lực quân sự đã giúp Trung Quốc có ảnh hưởng ngày càng lớn về mặt địa chính trị tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, thể hiện rất rõ qua việc nước này giữ vai trò lãnh đạo trong việc thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á[16], một lựa chọn có thể thay thế cho các thiết chế tài chính do Mỹ sáng lập[17] hay xây dựng các cơ sở quân và dân sự tại các thực thể tranh chấp trên Biển Đông.[18] Chúng tôi cho rằng việc áp dụng các nguyên tắc luật quốc tế trong UNCLOS buộc phải được xem xét trong bối cảnh rộng lớn với việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh tại Châu Á-Thái Bình Dương.

Trên thực tế, luật quốc tế không những không tách rời mà là một trong những dạng luật chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ các yếu tố quốc gia, chính trị và kinh tế. Do đó, luật quốc tế không thể là nguồn kiến tạo hoà bình duy nhất trong lĩnh vực quốc tế, đặc biệt là những vấn đề như Biển Đông. Bài viết lập luận rằng cần phải xem xét các khả năng của luật quốc tế trong bối cảnh “cân bằng quyền lực liên kết” của cộng đồng quốc tế. Bài viết cũng cho rằng tình trạng cân bằng quyền lực liên kết sẽ cung cấp những điều kiện hình thành nên các quy định có thể đại diện một cách công bằng cho lợi ích của tất cả các quốc gia, hơn là phục vụ một quốc gia bá quyền. Từ đó, tạo ra các điều kiện tương hỗ giữa các quốc gia và tạo dựng nghĩa vụ pháp lý thúc đẩy các quốc gia tuân thủ các nguyên tắc pháp luật mặc dù có các tính toán về lợi ích riêng. Bài viết đề xuất rằng không nên quá kỳ vọng vào luật quốc tế như là một nhân tố giải quyết hoà bình các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông nếu như các vấn đề cơ bản hơn liên quan đến việc tái thiết cân bằng quyền lực liên kết tại Châu Á-Thái Bình Dương không được giải quyết. Một dự án liên ngành giữa luật quốc tế và nghiên cứu chiến lược như là một hướng mới trong việc phân tích và đưa ra những hàm ý chính sách là cần thiết trong trường hợp này.

Nghiên cứu gồm các phần như sau: Mục II và III cung cấp nền tảng lịch sử của tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông và toàn cảnh về vụ kiện Biển Đông cùng với phản ứng của các quốc gia quan trọng trong khu vực đối với phán quyết của Toà Trọng tài. Phản ứng của các nước cho thấy sự không thống nhất trong khu vực sau phán quyết. Trong Mục IV, nghiên cứu sẽ trình bày một số hiểu biết về mối quan hệ giữa luật và quyền lực trong lĩnh vực pháp lý, đồng thời sẽ đánh giá cụ thể căn nguyên và cách hiểu xung quanh những nội dung của luật quốc tế cũng như khái niệm “cân bằng quyền lực.” Trong Mục V, nghiên cứu sẽ đánh giá tại sao việc phân tích cân bằng quyền lực có vai trò quan trọng để hiểu những khả năng của luật quốc tế có thể được áp dụng trong nhiều tranh chấp lãnh thổ phức tạp như ở Biển Đông. Nghiên cứu cho rằng “cân bằng quyền lực liên kết” tại Châu Á-Thái Bình Dương đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nghĩa vụ giữa các quốc gia thành viên có tiếng nói trong việc tuân thủ các quy định của luật quốc tế. Trong mục VI, chúng tôi kết luận thông qua việc lý giải tại sao phân tích về cân bằng quyền lực liên kết có thể mở ra những cơ hội cho các nhà hoạch định chính sách quan tâm tới vai trò của luật quốc tế tại Biển Đông.

II. Tình hình tranh chấp tại Biển Đông

1. Tình hình chung

Vị trí địa lý của Biển Đông và tầm quan trọng đối với vận tải khu vực và hàng hải đã được tác giả White viết trong tập san này.[19] Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, Biển Đông là biển chung giữa Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Singapore và Indonesia (những quốc gia ven biển), đồng thời là một trong những khu vực đông dân và được quân sự hoá mạnh mẽ nhất thế giới.[20] Biển Đông cũng là một trong những khu vực biển có sự đa dạng sinh học nhất[21] và một nguồn thực phẩm giàu có cho các quốc gia ven biển kể trên.[22] Những nhân tố này đã tạo ra các căng thẳng địa chính trị cũng như tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông

Căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại Biển Đông liên quan tới một nhóm thực thể đảo tại khu vực phía Nam được gọi tiếng Anh là Spratlys (Trường Sa). Trong phần lớn các trường hợp, các thực thể đều ở trên hoặc dưới mực nước biển.[23] Một vài quốc gia ven biển yêu sách đối với quần đảo Trường Sa và nhóm đảo khác trên biển. Những yêu sách đó trở nên thường xuyên trong thế kỷ thứ 20 sau chiến tranh thế giới thứ hai. (xem bình luận phần sau).

2. Yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc

Năm 1948, bản đồ chính thức đầu tiên của Trung Hoa Dân quốc (ROC), có sự xuất hiện của quần đảo Trường Sa, có tên là “Bản đồ chỉ vị trí các đảo trên Biển Đông” được xuất bản.[24] Bản đồ thể hiện đường đứt đoạn bao quanh quần đảo Trường Sa và những thực thể khác trên Biển Đông được mở rộng từ lãnh thổ đất liền của Trung Quốc. Tuy nhiên, không có sự liên tục nào trong quãng đường giữa các đường và các thực thể trên biển mà đường đó bao quanh. Theo Hình 1, trong phần lớn các trường hợp, các đường nối liền gần với đường biển của các nước ven biển[25] hơn là các thực thể đảo đá. Sau đó, nhiều phiên bản bản đồ được Trung Hoa Dân quốc (ROC) và sau đó là CHND Trung Hoa (PRC) lần lượt công bố, nhưng phần lớn bản đồ thể hiện chín đường quanh từng khu vực yêu sách[26] (mặc dù kích thước và vị trí của các khu vực này cũng thay đổi). Tiếp đó, điều này cũng liên tưởng tới yêu sách đường chín đoạn và xét theo vẻ ngoài là gắn hầu hết biển Đông với lãnh thổ yêu sách của Trung Quốc. Cả CHND Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc đều không làm rõ cơ sở pháp lý của các đường đứt đoạn này. Tuy nhiên, khu vực mà đường chín đoạn này bao quanh có diện tích gần 2 triệu km2.[27] Tuỳ theo cách tính toán, khu vực đó chiếm từ 60%-80% không gian biển Đông.[28]

Sau Cách mạng văn hoá Trung Quốc và sự kiện Pháp rút khỏi Việt Nam (nước ban đầu có yêu sách đối với khu vực như một phần thuộc chính quyền thực dân những năm 1950), tranh chấp đối với quần đảo Trường Sa ngày càng gia tăng. Quá trình sụp đổ, chia rẽ, thống nhất và hình thành các quốc gia ven biển giai đoạn hậu chiến và hậu thực dân đã khiến các yêu sách và phản yêu sách đối với chủ quyền ở Biển Đông trở nên ngày càng phức tạp. Tất cả các quốc gia đưa ra các yêu sách chồng lấn tại Biển Đông xuất phát từ việc sử dụng và yêu sách chủ quyền từ thế kỷ 19.[29] Mỗi quốc gia đều thể hiện các yêu sách của mình qua việc thực hiện hoặc nỗ lực thực hiện chiếm đóng một cách có chủ ý, từ đó thường dẫn đến xung đột giữa các quốc gia thành viên. Trong trường hợp của Trung Quốc, Việt Nam và Philippines, những xung đột như vậy thường dẫn đến sự đối đầu và gây ra nhiều mất mát từ các vụ đụng độ trên và quanh các thực thể địa lý trên biển.[30]

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Bài viết được đăng trên Asia-Pacific Journal of Ocean Law and Policy.

Lan Hương (dịch)

Lê Hà (hiệu đính)

 



[1] Về vấn đề trọng tài trước Toà trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Cộng hoà Philippines kiện CHND Trung Hoa), Toà trọng tài thuờng trực vụ số 2013-19, Phán quyết về Thẩm quyền và khả năng thụ lý, 29/10/2015 (‘Phán quyết về Thẩm quyền và khả năng thụ lý’); Về vấn đề trọng tài trước Toà trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Cộng hoà Philippines kiện CHND Trung Hoa), Toà trọng tài thuờng trực vụ số  2013-19, Phán quyết, 12/7/2016 (Phán quyết).

[2] Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển, được thông qua ngày 10/12/1982, 1833 unts 3, có hiệu lực ngày 16/11/1994. (Gọi tắt là UNCLOS).

[3] Đường chín đoạn chỉ đường phân định được Chính phủ nước Cộng Hoà Trung Hoa và sau đó là nước Chính phủ CHND Trung Hoa sử dụng nhằm thể hiện yêu sách của họ đối với Biển Đông. Tham khảo Department of State Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs, ‘Limits in the Seas’, No. 143, China: Maritime Claims in the scs, 5/12/2014, Office of Ocean and Polar Affairs Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs, tr.2.

[4] Tham khảo Xinuatnet, Toàn văn Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc về Phán quyết Vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng, 12/7/2016, trên trang http://news.xinhuanet.com/english/2016- 07/12/c_135507744.htm.

[5] Tham khảo Reuters, China vows to protect scs sovereignty, Manila upbeat, 14/7/2016, trên trang http://www.reuters.com/article/us-southchinasea-ruling-stakes-idUSKCN0ZS02U.

[6] Tham khảo Reuters, China, Russia naval drill in scs to begin Monday, 11/9/2016, trên trang http://www.reuters.com/article/us-southchinasea-china-russia-idUSKCN11H051.

[7] Stephen Lukes, Power: A Radical View, 2nd edition, (Palgrave McMillan, 2005), tr.14–59.

[8] Joseph S. Nye, Soft Power: The Means to Success in World Politics (PublicAffairs, 2006), tr.99–126.

[9] Wayne M. Morrison, ‘China’s Economic Rise: History, Trends, Challenges, and Implications for the United States’ (2015), Congressional Research Service Report, tr.5.

[10] Như trên.

[11] Tham khảo IMF World Economic Outlook tháng 10/2016, trên trang http://www.imf.org/ external/pubs/ft/weo/2016/02/.

[12] Tham khảo World gdp Ranking 2016, trên trang https://knoema.com/nwnfkne/world-gdp -ranking-2016-data-and-charts-forecast.

[13] Tham khảo 2017 Economic Statistics and Indicators, trên trang http://www.economywatch .com/economic-statistics/year/2017/.

[14] Tham khảo China and the us: Tale of Two Giant Economies, 12/5/2016, trên trang http://www .bloomberg.com/graphics/2016-us-vs-china-economy/.

[15] Tham khảo Military expenditure, trên trang https://www.sipri.org/research/armament-and- disarmament/arms-transfers-and-military-spending/military-expenditure. Từ năm 1990, Trung Quốc đã tăng tiêu dùng quân sự từ 6,1 tỷ USD lên 11,3 tỷ USD vào năm 2013, trên trang http://www.globalsecurity.org/military/world/china/budget- table.htm. Tháng 2/2016, Trung Quốc thông báo rằng Trung Quốc sẽ tăng chi tiêu quốc phòng thêm 7,6%, đây là mức tăng thấp nhất trong sáu năm qua. Ngân sách 146,7 tỷ USD sẽ được sử dụng nhằm bảo vệ các quyền lợi trên biển của Trung Quốc trên Biển Đông, trên trang http://www .globalsecurity.org/military/world/china/budget.htm. Mặc dù Trung Quốc tăng cường tiêu dùng quân sự thì vẫn đứng thứ hai sau Mỹ. Với ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới, năm 2015, Mỹ đã chi 597,5 tỷ USD trong khi Trung Quốc chỉ chi 145,8 tỷ USD, trên trang https://www.iiss.org/en/publications/military%20balance/issues/ the-military-balance-2016-d6c9.

[16] 57 quốc gia đã tham gia Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB), với Trung Quốc, với tỷ lệ đồng ý là 28,9%. Tham khảo AIIB , tại https:// www.aiib.org/en/about-aiib/governance/members-of-bank/index.html.

[17] Tham khảo The Economist, Why China is creating a new “World Bank” for Asia, 11/11/2014, trên trang http://www.economist.com/blogs/economist-explains/2014/11/economist -explains-6.

[18] Tham khảo The Wall Street Journal, China to Build Military Facilities on scs Islets, 16/6/2015, trên trang http://www.wsj.com/articles/china-to-build-military-facilities-on-south-china-sea-islets-1434436700.

[19] Michael White, ‘South China Sea: Its Importance for Shipping, Trade, Energy and Fisheries’ (2017) 1(3) Asia-Pacific Journal of Ocean Law and Policy, (sắp xuất bản).

[20] International Hydrographic Organization (IHO), Limits of Oceans and Seas, 3rd edition (IHO, 1953).

[21] Chẳng hạn, hơn 2500 loài cá biển và 500 loài san hô tạo ra đá có mặt ở khu vực này. Tham khảo Jiang, Y and Xue, X. ‘Building a cross-strait coopera- tion mechanism for the conservation and management of fishery resources in the scs’ (2015) 116 Ocean & Coastal Management, 318–330, tr.318.

[22] Tham khảo National Geographic, One of the World’s Biggest Fisheries is on the Verge of Collapse, 29/8/2016, trên trang http://news.nationalgeographic.com/2016/08/ wildlife-south-china-sea-overfishing-threatens-collapse/.

[23] Bao gồm bãi cạn, đá san hô và bãi ngầm. 14 thực thể địa lý được coi là “đảo” hoặc “đảo nhỏ” tồn tại trong bãi san hô này, nhưng không có khả năng tự nhiên duy trì đời sống con người, và có khả năng bị ngập. Xét từ khía cạnh lịch sử, quần đảo Trường Sa được đánh dấu là khu vực nguy hiểm và các thuỷ thủ đi biển luôn tránh. Tham khảo National Geospatial-Intelligence Agency (ngia), Pub. 161: Sailing Directions (Enroute) scs and the Gulf of Thailand, Fifteenth Edition, (ngia, 2014), tr.4 và 19.

[24] Như trên, Phán quyết, tr. 71[181].

[25] Đặc biệt là Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và Đài Loan.

[26] Như trên, US Department of State Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs, tr.2.

[27] Như trên, tr.4.

[28] Như trên.

[29] Do đó, Việt Nam yêu sách các quyền đối với Biển Đông và các đảo khác khi viện dẫn tới yêu sách của Thực dân Pháp. (CHND) Trung Quốc yêu sách phần Biển Đông nhượng lại cho Trung Quốc từ phía Nhật Bản sau Thế chiến II. Đài Loan cũng đưa ra yêu sách tương tự nhưng riêng rẽ với yêu sách của Trung Quốc dựa trên yêu sách chồng lấn với toàn Trung Quốc. Philippines liên hệ danh nghĩa với yêu sách đối với Trường Sa bởi một trong các công dân chiếm đóng hữu hiệu từ vẻ bề ngoài vào những năm 1950-trong thời gian Philippines cho rằng bất cứ yêu sách chủ quyền trước đây của các cường quốc châu Á và thực dân đã bị loại bỏ. Tham khảo, Hong Thao Nguyen ‘Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claims’ (2102) 1 Journal of East Asia International Law, 165–212; Ross Marlay ‘Chi- na, the Philippines, and the Spratly Islands’ (1997) 23:4 Asian Affairs: An American Review, 195–210, tr.204–205.

[30] Trung Quốc và Việt Nam, trên thực tế đã tiến hành hai cuộc đối đầu riêng rẽ trong thế kỷ trước, một lần ở quần đảo Trường Sa và một lần ở Hoàng Sa (nằm trong cái gọi là đường chín đoạn). Cả hai cuộc xung đột đều gây ra thương vong, Việt Nam chịu thương vong cao hơn. Tham khảo Marlay, ‘China, the Philippines, and the Spratly Islands’, tr.196–204.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8041 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin