21 - 10 - 2018 | 22:17
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Email In PDF.

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

 

Gregory J. Moore trưởng khoa Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Nottingham, Ninh Ba.

Hiện nay, Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck - dường như là mục tiêu Bắc Kinh tuyên bố - hoặc đi theo mô hình (chủ đích hoặc không chủ đích) của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ và/hoặc yêu sách biển, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng. Biển Đông là phép thử quan trọng, bởi những lựa chọn của Trung Quốc ở khu vực sẽ tác động tới quan hệ của nước này với các nước láng giềng và những cường quốc khác như Mỹ.

Từ khóa: Trung Quốc, Mỹ, Biển Đông, sự trỗi dậy hòa bình, các cường quốc.

Câu hỏi đặt ra với Washington và các nước láng giềng của Trung Quốc khá đơn giản: Liệu Trung Quốc trỗi dậy sẽ đi theo mô hình của Otto von Bismarck hay của Kaiser Wilhelm II? Hai nhà lãnh đạo này chịu trách nhiệm xây dựng nước Đức phát triển nhanh chóng nhưng lựa chọn con đường rất khác nhau trong chính sách đối ngoại quốc gia. Sau khi thống nhất các bang tách rời theo thể chế liên bang thành một quốc gia dân tộc mạnh mẽ và hùng cường vào năm 1871, Bismarck quản lý sự trỗi dậy của Đức, quan trọng không tạo cớ để các nước xung quanh thành lập một liên minh chống đối, hoặc khơi mào cho một cuộc chiến. Mặc dù các nhà hiện thực hiện đại cho rằng một cường quốc trỗi dậy sẽ dẫn tới việc hình thành một liên minh đối trọng (ở mức tối thiểu) và/ hoặc khơi mào một cuộc chiến (trong trường hợp xấu nhất), chiến lược tổng thể của Bismarck đã không dẫn đến hai kịch bản trên (Allison 2015). Eric Hobsbawm (1987, 312) từng nhận xét rằng Otto von Bismarck "thực sự là nhà vô địch thế giới trong bàn cờ ngoại giao đa phương suốt hai mươi năm kể từ sau năm 1871, [và] cống hiến hết mình, và thành công trong việc duy trì môi trường hòa bình giữa các cường quốc." Ngược lại, sau khi Kaiser Wilhelm II miễn nhiệm vai trò chính khách cấp cao của Bismarck và chỉ đạo chính sách đối ngoại của Đức vào năm 1890, ông chèo lái Đức theo hướng mở rộng sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự. Điều này đã không xoa dịu các nước láng giềng, các đối thủ cạnh tranh của Đức hoặc giúp quản lý hiệu quả hệ thống đồng minh khu vực mà người tiền nhiệm Otto von Bismarck cố gắng giữ sự cân bằng. Ông Kaiser Wilhelm II dường như cũng không cân nhắc nghiêm túc về những bất an của các các nước láng giềng trước tự sự trỗi dậy nhanh chóng của Đức. Kết quả tất yếu là một cuộc chạy đua vũ trang nổ ra, đặc biệt là các nước Nga, Pháp, và Vương quốc Anh, để đối phó với chủ nghĩa đơn phương mới việc Đức tập trung xây dựng sức mạnh quân sự và phát triển kinh tế vào đầu thế kỷ XX. Tất cả điều này, cùng với vai trò quan trọng của các cường quốc nhỏ hơn như Serbia và những cá nhân như Princip cùng vụ ám sát Arch Duke Francis Ferdinand, làm bùng nổ Thế chiến thứ nhất vào năm 1914. Người ta có thể tự hỏi Đức, Châu Âu sẽ ra sao nếu ông Kaiser Wilhelm không điều hành chính sách đối ngoại của Đức, thay vào đó trao quyền cho một người có quan điểm giống với nhà chính khách dày dạn kinh nghiệm, Otto von Bismarck, để tiếp tục định hướng chính sách đối ngoại của Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ XX.

Giống với nước Đức thời Bismarck và Wilhelm, Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy nhanh chóng, gây xáo trộn cán cân quyền lực khu vực. Như nước Đức thời kỳ đó, Trung Quốc phải đứng trước những lựa chọn về triển khai chính sách đối ngoại hiện tại và tương lai - những lựa chọn này có ảnh hưởng lớn đến hòa bình và an ninh khu vực. Biển Đông đang và sẽ là một trong những vũ đài chiến lược quan trọng nhất Trung Quốc phải quyết định triển khai sức mạnh trong những năm tới. Trên thực tế, giới truyền thông, và ngày càng nhiều người trong giới học giả, thảo luận về tầm quan trọng của Biển Đông trong quan hệ khu vực (Đông Á và Đông Nam Á) mối quan hệ quốc tế. Phán quyết gần đây của Tòa Trọng tài ở The Hague trong vụ kiện của Philippines[1] chỉ rõ đây là vấn đề có tầm quan trọng quốc tế. Học giả Robert Kaplan nhận định Biển Đông đối với Trung Quốc hiện nay giống như Biển Caribê đối với Mỹ vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ XX, và Biển Đông đặt trong bối cảnh chiến lược Đông Á giống như Địa Trung Hải trong bối cảnh khu vực Cận Đông, Châu Phi, Châu Âu từ thời kỳ các thành bang Hy Lạp cho tới ngày nay, và “Biển Đông đóng vai trò quan trọng đối với tương lai địa chính trị của Trung Quốc” (2015, 20). những so sánh này có điểm phù hợp nhất định, Biển Đông và bối cảnh khu vực rất khác biệt về bản chất và thời điểm thế kỷ 21, như vậy trong khi học hỏi từ quá khứ, chúng ta cần nhìn nhận đúng về Biển Đông như một hiện tượng chiến lược của thế kỷ 21. Hàm ý ở đây là các nhân tố quan trọng như Chiến lược Chống Tiếp cận, Chống Xâm nhập của Trung Quốc (theo quan điểm của Mỹ) và chiến lược Không-Hải Chiến của Mỹ, đối chọi với nhau tạo ra nguy cơ leo thang rất đáng lo ngại (Moore 2014).

Về khía cạnh chiến lược, Biển Đông rất quan trọng bởi "người ta ước tính hơn một nửa hoạt động thương mại biển của thế giới, một nửa lượng khí đốt hóa lỏng và một phần ba lượng dầu thô toàn cầu vận chuyển qua Eo biển Malacca" (Hayton 2014, 101). Biển Đông cũng là khu vực Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng và trong một số trường hợp mang tính đối lập. Thực tế, Hải quân Mỹ cung cấp "dịch vụ công" ở Biển Đông kể từ Thế chiến II, giúp duy trì các tuyến đường biển và giao thương biển thông suốt, không bị cản trở. Việc Mỹ can dự vào khu vực được tất cả các quốc gia tiếp giáp Biển Đông, ngoại trừ Trung Quốc, hoan nghênh bởi họ coi Mỹ đóng vai trò đối trọng ngăn cản các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở khu vực.[2] Trong khi cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ có thể tương đối mới nhưng tầm quan trọng Eo biển Malacca và Biển Đông trong thế kỷ 21 không phải là điều mới mẻ, vì khu vực này là tuyến đường biển chiến lược và cơ sở cho hoạt động thương mại nội khối và liên khu vực trong hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm.

Tuy nhiên điều khiến các nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại và các chuyên gia về quan hệ quốc tế (IR) đặc biệt quan tâm đến Biển Đông giai đoạn đầu thế kỷ 21 có lẽ bối cảnh chiến lược Biển Đông là trường hợp điển hình phù hợp nhất để kiểm nghiệm “sự trỗi dậy hòa bình (hoặc không hòa bình) của Trung Quốc”, đây là điều Bắc Kinh tuyên bố trong những năm qua. Phán quyết của Tòa Trọng tài Hague khiến điều này rõ ràng hơn. Vụ kiện nhấn mạnh tầm quan trọng cách thức Trung Quốc triển khai chính sách đối ngoại và chiến lược cũng như tác động đối với các nước láng giềng trước thực tế Trung Quốc một lần nữa trở nên hùng mạnh. Ở đây, vấn đề chiến lược và lãnh thổ rất quan trọng nhưng các quyết định của Tòa không rõ ràng như chúng ta kỳ vọng, Trung Quốc có khả năng thể hiện cách hành xử tích cực (cho thấy nước này có điều chỉnh) hoặc lối hành xử mà các nước láng giềng đánh giá quyết đoán và thực dụng thay vì dựa trên nguyên tắc. Diễn biến của tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực và thế giới vì liên quan đến khả năng Trung Quốc trỗi dậy hòa bình, và sự trỗi dậy này có ý nghĩa lớn đối với khu vực và thế giới. Cuối cùng, chúng ta sẽ thảo luận một vấn đề lớn hơn đó là sự trỗi dậy toàn cầu của Trung Quốc.

Tuyên bố Trỗi dậy Hòa bình

Đối với các nhà hoạch định chính sách quốc tế và sinh viên ngành quan hệ quốc tế, một trong những sự kiện có nhiều ảnh hưởng vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Việc Trung Quốc nổi lên là cường quốc kinh tế toàn cầu thật đáng kinh ngạc ở nhiều phương diện, đặc biệt xét đến tình trạng kiệt quệ về kinh tế sau khi kết thúc Cuộc Cách mạng Văn hóa vào giữa thập niên 1970, từ đó nước này đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Cách thức các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc lựa chọn để thể hiện sự trỗi dậy là gì?

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã thúc đẩy chính sách “thế giới hài hòa” dựa trên chính sách “láng giềng thân thiện” của người tiền nhiệm, hướng tới củng cố và ổn định quan hệ với các nước láng giềng, từ đó Trung Quốc tập trung vào công cuộc phát triển đất nước. Trên thực tế, Trung Quốc chung biên giới với 14 quốc gia, và dưới thời Hồ Cẩm Đào, quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng có nền tảng khá vững chắc, theo một chuyên gia Trung Quốc đánh giá vào năm 2008 là “tốt nhất trong lịch sử”.[3] Chính sách “thế giới hài hòa” của Trung Quốc hướng tới xây dựng mối quan hệ hòa hợp, không chỉ với các nước láng giềng, mà với mọi quốc gia trên thế giới. Ông Hồ Cẩm Đào (năm 2008) tuyên bố như sau:

Trong một thế giới mà xu hướng đa cực là không thể đảo ngược, toàn cầu hoá kinh tế diễn ra sâu rộng cùng với cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ, tương lai của Trung Quốc gắn kết với tương lai của thế giới lớn hơn bao giờ hếtTrung Quốc sẽ kiên định đi theo con đường phát triển hòa bìnhTrung Quốc cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tếTrung Quốc không bao giờ muốn trở thành bá quyền hoặc bành trướng.

Những tuyên bố của chủ tịch Trung Quốc khi đó rất quan trọng, và chúng ta sẽ thảo luận về điều này sau.

Với sự nổi lên của ông Tập Cận Bình trong vai trò lãnh đạo Trung Quốc, các tuyên bố chính sách đối ngoại của nước này thay đổi không đáng kể, nhưng chính sách đối ngoại thực sự thay đổi. Ông Tập mang đến câu chuyện về “Giấc mơ Trung Hoa” mà chúng ta có thể coi là một phiên bản của chủ nghĩa tập thể về Giấc mơ Mỹ. Ông Tập (2014, 37–39) nhấn mạnh đây cơ bản là "quá trình phục hưng dân tộc Trung Hoa". Cùng với đó, ông Tập thúc đẩy “mối quan hệ cường quốc kiểu mới” (NTGPR) dựa trên ba tiền đề: “không xung đột hay đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi” (Tập 2013, 306). Trong khi trước đó Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chưa chú trọng, ông Tập đã nắm lấy “câu thần chú” này và đề xuất với tổng thống Mỹ Barack Obama tại thượng đỉnh Sunnylands giữa hai nhà lãnh đạo vào năm 2013. Tuy nhiên đề xuất này có vẻ không được Mỹ đón nhận. Trong “Sách trắng về Hợp tác An ninh ở châu Á-Thái Bình Dương” của Trung Quốc năm 2017, dường như các khái niệm chung (và ba tiền đề trên) của NTGPR vẫn là một phần trong hệ thống chính sách đối ngoại mặc dù khái niệm NTGPR không được đề cập. Thay vào đó, sách trắng kêu gọi “một mô hình quan hệ quốc tế kiểu mới, trong đó tập trung vào hợp tác cùng có lợi” (mặc dù báo cáo không nêu chi tiết về điều kiện yêu cầu), và trong báo cáo này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục khẳng định ý muốn đi theo con đường "phát triển hòa bình" như nguyên tắc định hướng, một khái niệm được ông Tập nêu trong báo cáo tại Đại hội Đảng lần thứ XIX (Xi 2017).

Trung Quốc sử dụng cụm từ "Phát triển hòa bình" để thay thế cụm từ "Trỗi dậy hòa bình" (heping jueqi) trước đó. Năm 2002, Chủ tịch Diễn đàn Cải cách Trung Quốc Trịnh Tất Kiên (1995) đã đưa ra khái niệm "Trỗi dậy hòa bình", nhưng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và giới lãnh đạo Trung Quốc năm 2004 và sau này chủ yếu sử dụng cụm từ "phát triển hòa bình". Đây là kết quả của “khái niệm an ninh mới” (xin anquan guan) mà Trung Quốc xây dựng từ nhiều năm trước, trong đó khẳng định muốn tránh những sai lầm chính trị và quân sự mang tính bất ổn và bạo lực của các cường quốc trỗi dậy trước đó. Học giả Bonnie Glaser và Evan Medeiros cho rằng chính phủ Trung Quốc sau đó đã không sử dụng cụm từ “trỗi dậy hòa bình”, thay vào là khái niệm phổ biến hiện nay “phát triển hòa bình” (một cụm từ ông Tập sử dụng trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ XIX) bởi khái niệm Trung Quốc trỗi dậy có thể khiến những người theo chủ nghĩa hiện thực lo ngại về một cường quốc mới trỗi dậy (Glaser Medeiros 2007). Dĩ nhiên, tất cả các tuyên bố về trỗi dậy hay phát triển được hiểu trong bối cảnh câu nói của Đặng Tiểu Bình, kiến trúc sư trưởng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, rằng Trung Quốc nên thao quang, dưỡng hối” (taoguang, yanghui), hay nghĩa đen là giấu mình chờ thời.” Điều này có thể được hiểu Trung Quốc muốn phát triển hòa bình và không tìm kiếm một vị thế trên vũ đài chính trị toàn cầu (nghĩa là muốn tránh trở thành tâm điểm chú ý) hoặc Trung Quốc thực sự có tham vọng trở thành cường quốc toàn cầu nhưng phải giấu mình chờ thời (nghĩa là tới thời điểm nước này đạt sức mạnh "tối đa"). Dĩ nhiên, sự khác biệt giữa hai cách giải thích này rất lớn, và trong trường hợp đó, liên quan đến câu hỏi Trung Quốc cuối cùng sẽ đóng vai trò gì khu vực và quy mô toàn cầu.

Trong khi Trung Quốc dưới thời ông Tập tiếp tục tuyên bố về phát triển hòa bình (câu thần chú ông Tập đề cập trong báo báo tại Đại hội Đảng Trung Quốc lần thứ XIX), rõ ràng những lựa chọn chính sách đối ngoại hiện nay cho thấy ông Tập tạm gác lại phương châm cũ của Đặng Tiểu Bình về “taoguang, yanghui”. Các nhà phân tích Trung Quốc dường như thống nhất rằng ông Tập nhận định thời cơ của Trung Quốc đã tới, sức mạnh quốc gia hiện tại đủ mạnh, trong khi thận trọng nhưng không cần phải giấu mình chờ thời nữa. Thực tế những năm gần đây, ngày càng có nhiều tiếng nói trong giới truyền thông, học giả, các nhà phân tích chính sách kêu gọi chính phủ thực thi chính sách đối ngoại quyết đoán hơn. Dường như ông Tập đã không làm họ thất vọng. Chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông đã thể hiện rõ điều này.

Trung Quốc, Mỹ, và Biển Đông

Trong bối cảnh hiện nay, việc xem xét chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông là cách thức phù hợp để đánh giá các tuyên bố chính sách và thực tế triển khai của nước này. Theo quan điểm của một số nước láng giềng Trung Quốc và nhiều nhân vật ở Washington, chính sách cứng rắn hơn của Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông và Biển Đông những năm gần đây cho thấy những đồn đoán của các nhà hiện thực đã thành sự thật. Nói cách khác, như Thucydides đề cập trong nghiên cứu của ông về Cuộc chiến Peloponnesian, "kẻ mạnh làm những điều họ có thể, trong khi kẻ yếu phải chấp nhận thực tế của họ," có nghĩa Trung Quốc càng lớn mạnh, nước này ngày càng quyết đoán hơn (Moore 2017, 98). Nói cách khác, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, nước này sẽ phân bổ nhiều nguồn lực hơn cho chi tiêu quân sự. Đặc biệt, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) đã tiếp nhận nhiều nguồn lực, phát triển năng lực trên biển và khả năng triển khai lực lượng từ Đông Bắc Á đến Biển Hoa Đông, Biển Đông và cái gọi là chuỗi ngọc trai gồm các cơ sở hải quân của Trung Quốc nằm rải rác từ Biển Đông qua Eo biển Malacca, Nam Á và đến tận Vịnh Ba Tư, khu vực Trung Quốc có nhiều hoạt động vận tải biển từ xuất khẩu hàng hóa sản xuất sang châu Âu, nhập khẩu dầu từ Trung Đông, và nhiều hoạt động trao đổi hàng hóa và thương mại khác. Những năm gần đây,  nhiệm vụ của PLAN được mở rộng và Trung Quốc tăng cường thúc đẩy đối với các yêu sách biển và chính sách biển của mình (Lee 2012).

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Gregory J. Moore là trưởng khoa Nghiên cứu Quốc tế tại Đại học Nottingham, Ninh Ba, Trung Quốc, giảng dạy các khóa học đại học và sau đại học về quan hệ quốc tế. Lĩnh vực nghiên cứu ông quan tâm bao gồm quan hệ quốc tế, lý thuyết IR, an ninh quốc tế, các phương pháp, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Mỹ, quan hệ Trung-Mỹ, IR/ an ninh Đông Á, phân tích chính sách đối ngoại và vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Ông có nhiều bài báo trên các tạp chí như Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, An ninh Châu Á, Phân tích Chính sách Đối ngoại, Quan hệ quốc tế ở Châu Á - Thái Bình Dương, Quan điểm châu Á, Tạp chí Trung Quốc đương đạiTạp chí Khoa học Chính trị Trung Quốc. Ông hiện đang viết một cuốn sách về quan hệ Trung-Mỹ và đã hoàn thành một cuốn sách có tựa đề Hoạt động hạt nhân của Bắc Triều Tiên: An ninh khu vực và việc không phổ biến vũ khí (2014) và một cuốn sách về tư duy quan hệ quốc tế của Reinhold Niebuhr (đang chờ duyệt). Ông Gregory J. Moore hiện là thành viên của Ủy ban Quốc gia Mỹ (US) về Quan hệ Mỹ-Trung và là thành viên cao cấp của Viện Chính sách Trung Quốc, Đại học Nottingham. Liên lạc với tác giả qua địa chỉ Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. .

Bài viết được đăng trên Góc nhìn Châu Á số 42 (2018), 265–283

Tuấn Đinh (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)



[1] Bên cạnh những điều khác, Philippines cáo buộc Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp Bãi cạn Scarborough (Panatag, hay đảo Hoàng Nham), nằm trong vùng đặc quyết kinh tế của Philippines và cách Trung Quốc tới 500 dặm.

[2] Tôi cho rằng các nước bao gồm cả Philippines, thậm chí dưới chính quyền Duterte, một nhà lãnh đạo thường hay chỉ trích Mỹ. Ông Duterte không yêu cầu người Mỹ rời đi, hoặc các vị tướng quân đội của Philippines hiện nay không có xu hướng chống Mỹ như ông Duterte.

[3] Các thảo luận tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, Bắc Kinh (tháng 6 năm 2008)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7368 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin