21 - 10 - 2018 | 21:25
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Email In PDF.

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

 

 

Về cơ bản, Biển Đông có 5 tranh chấp biển và các tranh chấp khác có liên quan đến biển, bao gồm:

1. Yêu sách xung đột của các quốc gia trong khu vực về chủ quyền lãnh thổ của các thực thể trong Biển Đông;

2. Quan điểm khác nhau của các nước về tình trạng pháp lý của các thực thể là đảo hay đá;

3. Quan điểm khác nhau của các nước về các yêu sách lịch sử ở Biển Đông;

4. Do hệ quả của ba tranh chấp đầu tiên nên dẫn đến  quan điểm khác nhau giữa các quốc gia trong việc xác định của các yêu sách chồng lấn đối với vùng lãnh hải , vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)  200 hải lý (M)  và thềm lục địa ngoài 200 M từ các đường cơ sở ở Biển Đông và kết quả là các ranh giới biển vẫn chưa được giải quyết; và

5. Tồn tại các quan điểm khác nhau của các quốc gia trong khu vực cũng như các quốc gia bên ngoài khu vực liên quan đến luật áp dụng cho các quyền hàng hải trong các khu vực ở Biển Đông.

Vụ kiện Biển Đông[1] chỉ giải quyết trực tiếp hai trong số các tranh chấp này-quy chế pháp lý của các thực thể ở Biển Đông và yêu sách lịch sử mập mờ của Trung Quốc ở Biển Đông. Phán quyết năm 2016 rõ ràng, nếu không muốn nói là đầy thuyết phục, đã kết luận rằng các thực thể liên quan giữa Philippines và Trung Quốc là đá (trái ngược với các đảo có đầy đủ các vùng biển) và do vậy chỉ có 12M.[2] Một kết luận dễ dự đoán hơn của Tòa đó là EEZ, theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS)[3] đã bác bỏ mọi yêu sách lịch sử đối với không gian biển và các hoạt động của Trung Quốc xung đột với quyền của quốc gia khác đối với vùng EEZ cũng như trong vùng EEZ của quốc gia đó.[4] Có một số bài viết học thuật đã phân tích cụ thể các khía cạnh quan trọng này của Phán quyết.[5]

Yếu tố “chính trị” chính của Vụ kiện Biển Đông là Trung Quốc kiên quyết từ chối tham gia vào vụ kiện, thể hiện rõ ràng từ phản ứng của Trung Quốc ngày từ khi Philippines bắt đầu khởi kiện,[6] không tham gia vào quá trình thành lập hội đồng trọng tài,[7] và phản ứng ngay lập tức đối với cả Phán quyết về Thẩm quyền 2015[8]Phán quyết 2016[9]. Có thể dự đoán mặt học thuật khi đánh giá tác động từ việc Trung Quốc không tham gia vụ kiện theo khía cạnh ý nghĩa và tương lai cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật biển, rộng hơn là cơ chế “pháp quyền” đối với các đại dương. Phần lớn bài viết này mang tính phê phán dựa trên quan điểm là tính hiệu quả hay giá trị của một phán quyết tài phán quốc tế cụ thể chủ yếu được quyết định  bởi sự tuân thủ của các bên tranh chấp đối với kết quả của vụ kiện.[10]

Mặc dù những ghi nhận về việc thực thi các phán quyết của tòa án và tòa trọng tài quốc tế (được các bên tranh chấp thừa nhận) vẫn chưa thực sự như kỳ vọng, đa số các quốc gia đều chấp thuận và thực thi phán quyết của tòa án và tòa trọng tài quốc tế, đây là điều còn khá mới mẻ đối với các luật sư quốc gia nhưng lại rất phổ biến đối với các luật sự quốc tế. Điều này bổ trợ thêm cho lập luận rằng tòa án thường đạt kết quả nằm trong kỳ vọng của các bên.  Tuy nhiên, vụ kiện Biển Đông rõ ràng là một ngoại lệ về việc thực thi và tuân thủ các phán quyết quốc tế, trong đó, một bên tranh chấp từ chối tham gia vào vụ kiện. Một lần nữa, một trong những điều gây tò mò của cơ quan tài phán quốc tế là số lần các quốc gia không tham gia vụ kiện trong những thập kỷ gần đây. Hệ thống tài phán quốc tế đã chứng kiến việc từ chối tham gia của Iceland,[11] Pháp,[12] Iran[13] và Mỹ[14] vào những năm 1970 và 1980, cũng như chứng kiến Trung Quốc[15] và Nga[16] đã từ chối tham gia trong những thập kỷ gần đây.

Tòa Trọng tài trong vụ kiện Biển Đông nhận thức được rằng một phán quyết về bản chất liên quan đến đảo/đá và quyền lịch sử trái với quan điểm của Trung Quốc  chắc chắn sẽ không được quốc gia này chấp nhận. Nhận thức này luôn thường trực trong suy nghĩ của Tòa khi thực thi trách nhiệm pháp lý của mình.

Tránh các vấn đề về bản chất này thời điểm đó là một lựa chọn thực tế cho Tòa bởi Trung Quốc đã đưa ra lập luận hùng hồn và mang tính pháp lý[17] rằng Tòa không có thẩm quyền giải quyết các vấn đề chủ yếu bởi chúng liên quan đến chủ quyền hoặc giải quyết “tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng điều 15,74 và 83 liên quan đến phân định biên giới biển, và những tranh chấp liên quan đến vịnh lịch sử hoặc danh nghĩa lịch sử,” (theo Điều 298(1)(a)(i)), Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố loại trừ những tranh chấp này khỏi cơ chế giải quyết bắt buộc theo quy định của UNCLOS.[18] Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa   bác bỏ lập luận rằng vấn đề chính của tranh chấp là chủ quyền lãnh thổ[19] và loại trừ theo Điều 298 có thể được áp dụng.[20] Lập luận cơ bản của Tòa là việc xác định quy chế pháp lý của một thực thể (đá, đảo hay bãi nửa nổi nửa chìm) không liên quan đến việc quốc gia nào có chủ quyền với thực thể đó và điều này cũng không liên quan hay buộc Tòa phải trực tiếp tiến hành việc phân định biên giới biển theo Điều 298. Liên quan đến khả năng áp dụng của Điều 298 về yêu sách lịch sử của Trung Quốc, Tòa kết luận Trung Quốc không yêu sách “danh nghĩa lịch sử”[21] và vì vậy, Điều 298 không loại trừ Tòa khỏi việc có thẩm quyền.[22]

Những điểm phân tích trên về thẩm quyền của Tòa  để xem xét các vấn đề thực chất không phải là mục tiêu của bài viết này. Tuy nhiên, có thể chỉ ra rằng liên quan đến loại trừ theo Điều 298, có thể lập luận rằng Tòa đã đúng khi giải thích điều khoản theo nghĩa hẹp rằng đó là một phần của nguyên tắc chung về cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định rõ trong UNCLOS. Trái lại cũng có thể tranh luận rằng Điều 298 cần được giải thích một cách rộng rãi khi cần tôn trọng điều khoản mà ở đó cho phép loại trừ xét xử bắt buộc vì sự đồng thuận đối với thẩm quyền như vậy phải rõ ràng. Bỏ qua việc giải thích rộng hay hẹp, có thể nhận thấy rằng việc xác định quy chế pháp lý của đảo/đá thường xảy ra trong các cuộc phân định biên giới biển song phương và trong khi những phân tích của Tòa về sự khác nhau giữa các thuật ngữ “danh nghĩa lịch sử”, “quyền lịch sử” và “vùng nước lịch sử” được đón nhận thì trước khi có Phán quyết 2016, việc Tòa khẳng định  rằng sự khác biệt giữa các cụm từ là “cách dùng thuộc thẩm quyền của tòa” lại đặt ra những câu hỏi.[23]

Tại sao Tòa quyết định có thẩm quyền liên quan đến hai vấn đề chính mặc dù biết rằng phán quyết về vấn đề bản chất đó sẽ trái với quan điểm của Trung Quốc, sẽ bị phản đối, nói cách khác phán quyết sẽ chỉ là một tờ giấy vô nghĩa?

Lập luận dưới đây là câu trả lời cho câu hỏi này và kết quả Phán quyết 2016 là câu trả lời rõ ràng nhất khi tạo ra hoặc mở đường cho Philippines và Trung quốc cũng như các quốc gia ven Biển Đông giải quyết các yêu sách chồng lấn ở Biển Đông cũng như sự ủng hộ mạnh mẽ đối với cơ chế UNCLOS.

Lập luận dẫn đến kết luận trên được rút ra từ công trình nghiên cứu gần đây của Yual Shany, Đánh giá hiệu quả của Tòa án quốc tế (2016), tác giả công trình trên đã tìm cách làm phức tạp hóa biện pháp phổ biến để đánh giá tính hiệu quả của các cơ chế tài phán quốc tế và phán quyết của họ dựa trên việc xem xét sự tuân thủ của các quốc gia tranh chấp đối với phán quyết cuối cùng. Trong bài viết của mình, Shany gợi ý một số mục tiêu “chung” giữa các tòa án quốc tế, [ví dụ: Tòa Công lý quốc tế hoặc Tòa Nhân quyền Châu Âu] trong khi đó vẫn giải thích một cách thận trọng rằng “không có một mẫu số chung phù hợp với tất cả danh sách mục tiêu”[24] với kết quả là nhận thức phức tạp hơn về hiệu quả cũng như phán quyết của các cơ quan này. Phân tích của Shany không xem xét các tòa trọng tài được thành lập theo vụ việc (ad hoc). Tuy nhiên, các tòa trọng tài có thẩm quyền bắt nguồn từ UNCLOS có thể được xem là cơ chế lai gần giống như ITLOS, và tổng thể là gắn với  Công ước UNCLOS và vì vậy có chung nhiều đặc điểm của cơ quan tài phán.

Các mục tiêu và các yếu tố khác được nhận diện là quan trọng trong nghiên cứu của Shany giúp giải thích phán quyết Vụ kiện Biển Đông về quy chế của các thực thể và yêu sách lịch sử là: giải quyết tranh chấp và cơ chế/quy tắc bổ trợ giải quyết.

Đầu tiên, mặc dù được quy định trong các điều ước và các quy tắc của luật quốc tế liên quan đến vấn đề thẩm quyền và cơ sở đưa ra quyết định, các tòa quốc tế thường nhận thức rất rõ chức năng cơ bản của mình là giải quyết tranh chấp. Shany lưu ý rằng “chức năng tư pháp  và mục tiêu chính đáng của một cơ quan tài phán quốc tế là giải quyết các xung đột cụ thể.”[25] Khác với tình hình của hầu hết các tòa án quốc gia, một tòa án quốc tế với chức năng là cơ quan giải quyết tranh chấp phải đối diện với thực tế là tòa sẽ không có năng lực thực thi phán quyết . Vì lý do này, tính chính danh và hiệu quả  phán quyết của một cơ quan tài phán quốc tế cả về mặt luật pháp cũng như  trong quan điểm của các bên tranh chấp đều quan trọng.[26] Điều này không có nghĩa là các tòa sẽ có xu hướng nghiêng hẳn theo những mô thức khác biệt hay phổ biến từ những kết quả mang tính phân phối, thay vào đó các tòa án quốc tế phải nhận thức được rằng kết quả mà họ đưa ra có thể dự đoán được một cách hợp lý đối với các bên tranh chấp.

Thứ hai, Shany mô tả thể chế và quy tắc bổ trợ là tiêu chí quan trọng để đánh giá và hiểu được vai trò của việc xét xử và các phán quyết quốc tế. Ông nhận xét rằng “thể chế tòa án” ... được kỳ vọng là sẽ đóng góp cho mục tiêu của toàn thể chế. Do đó, họ có thể cảm thấy bị ràng buộc trách nhiệm trong việc thực thi quyền tư pháp của mình với một ý thức về sứ mệnh của một thể chế chuyên nghiệp (ý thức về sứ mệnh hoặc sự thiên vị).”[27] Gắn liền với điều này là quy tắc bổ trợ được Shany nhắc đến như sau: “Trao cho các tòa quốc tế chức năng giải thích luật và áp dụng luật đề gợi ý sứ mệnh cho quy tắc bổ trợ: hối thúc các quốc gia tuân thủ các nghĩa vụ pháp luật quốc tế của họ… ”[28]

Một phần của thể chế/quy tắc bổ trợ là một điểm quan trọng được Shany nhấn mạnh:

… Các tòa án quốc tế được lập ra nhằm tạo ra một số kết quả quan trọng thay vì là những thay đổi trong thực tiễn của các bên đối với việc xét xử (sự tuân thủ bản án). Ví dụ, tòa án quốc tế có thể tạo ra các quy tắc mới, hoặc làm rõ các quy tắc hiện hành, và do đó ảnh hưởng tới thực tiễn dài hạn của bên thứ ba. Những hiệu ứng lâu dài như vậy, kể cả khi có khả năng các bên liên quan trực tiếp tuân thủ phán quyết của tòa, có thể là quan trọng để ngăn chặn các tranh chấp quốc tế phát sinh trong tương lai hoặc đưa ra giải pháp toàn diện cho các vấn đề tiếp tục tái diễn.[29]

Những điều trên thì giúp ích gì cho việcgiải thích Phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ kiện Biển Đông, đặc biệt là Phán quyết 2016?

Góc nhìn về thể chế/quy tắc bổ trợ hỗ trợ rất lớn cho quan điểm của Tòa về đường chín đoạn. Không giống như vấn đề đảo/đảo đá, là một phần quy định rõ ràng trong cơ chế luật biển, đường chín đoạn là vấn đề mới và không rõ ràng. Có lẽ phán quyết về việc có thẩm quyền là nhằm đảm bảo Tòa có cơ hội (hay sự cần thiết) để giải quyết đường chín đoạn.

Một trong những đặc điểm cơ bản của UNCLOS, và cũng  là luật tập quán quốc tế là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý. Kết quả về cơ chế của vùng biển rộng lớn này là rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và lợi ích kinh tế, vốn từng là đối tượng của tự do biển cả (tất cả đều có thể tiếp cận) nay thuộc quyền kiểm soát của quốc gia. Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông đã thẳng thừng bác bỏ khả năng một quốc gia có thẩm quyền đối với tài nguyên hoặc không gian đại dương bên trong EEZ của một quốc gia khác dựa trên yêu sách mang tính lịch sử. Tòa tuyên bố:

Công ước không hề có bất kỳ quy định rõ ràng nào về việc duy trì hoặc bảo vệ các quyền lịch sử không phù hợp với Công ước. Trái lại, Công ước đã loại bỏ các quyền và thỏa thuận không phù hợp trước đó. Công ước bao quát toàn diện trong việc vạch ra bản chất về quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.[30]

Tòa đã viện dẫn đến Vụ Vịnh Maine 1984[31], trong đó Mỹ lập luận rằng quyền đánh cá lịch sử có vai trò trong việc phân định vùng 200 hải lý và Tòa Quốc tế đáp lại rằng vùng biển này trước đây là biển cả và không có quyền đặc biệt nào phát sinh tại nơi các ngư dân chỉ đơn giản là đang thực hiện quyền mở và sẵn có cho tất cả.[32] Tòa lưu ý đến tuyên bố của một đại biểu Trung Quốc được đưa ra trong quá trình đàm phán các điều khoản đánh cá của UNCLOS với nội dung kịch liệt phản đối ý tưởng về quyền đánh cá lịch sử trong vùng EEZ của một quốc gia khác, điều đó cho thấy tuyên bố này “không tương thích” với yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc.[33] Ngoài vấn đề về quyền đánh bắt cá, Tòa ghi nhận về khó khăn của mọi loại quyền lịch sử hiện tại liên quan đến các phát triển đáng kể gần đây về hoạt động dầu khí ngoài khơi (những năm 1960).[34]

Quan điểm chung của Tòa là:

Rõ ràng là không thể tưởng tượng được rằng, các nhà soạn thảo Công ước đã nỗ lực như thế nào trong suột chặng đường dài để đi đến một văn bản đồng thuận và loại bỏ hầu hết mọi bảo lưu, ngoại trừ số ít trường hợp bảo lưu đặc biệt, đồng thời cũng lường trước về kết quả là Công ước sẽ hạ thấp tầm quan trọng của các yêu sách lịch sử rộng.[35]

Vì vậy, Tòa kết luận rằng khi UNCLOS “không dành chỗ cho yêu sách về  quyền lịch sử”…thì “Yêu sách của Trung Quốc về quyền lịch sử đối với các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong "đường chín đoạn" là trái với Công ước ”[36]

Từ quan điểm giải quyết tranh chấp, từ lâu mọi người đã hiểu rằng cách duy nhất để giải quyết các vùng biển chồng lấn ở Biển Đông là tách biệt các thực thể ở Biển Đông ra khỏi các tranh chấp lãnh thổ.[37] Trong khi  các tòa quốc tế thường được kêu gọi giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, bao gồm hai vụ việc ở khu vực Đông Nam Á – Vụ Malaysia / Indonesia liên quan đến Sipadan và Ligitan[38] và Vụ Malaysia/Singapore liên quan đến một vài thực thể nhỏ[39] - thì mạng lưới phức tạp các thực thể được yêu sách ở Biển Đông khiến cho việc giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh thổ khó có khả năng đạt được. Tách biệt các thực thể có nghĩa là coi tất cả các thực thể có liên quan là đá và chỉ được hưởng  12 hải lý vùng lãnh hải và không có vùng EEZ 200 hải lý cũng như  thềm lục địa ngoài 200 hải lý. Đây là quan điểm cơ bản được Malaysia, Philippines và Việt Nam thể hiện trong bản đệ trình 2009 gửi lên Ủy ban về Ranh giới Thềm lục địa,[40] nơi các vùng 200 hải lý (và thềm lục địa ngoài 200 hải lý) được mô tả là bắt nguồn từ bờ biển đất liền và các thực thể trên biển trong các khu vực liên quan được tạm thời bỏ qua. Đệ trình chung Malaysia-Việt Nam chỉ ra rằng có những thực thể Việt Nam yêu sách nằm trong vùng 200 hải lý của Malaysia. Tác dụng của việc tách biệt các thực thể là thay đổi không gian tranh chấp ở Biển Đông từ tranh chấp đa phương sang các tranh chấp EEZ (thềm lục địa) song phương  để từ đó hướng tới cơ chế đàm phán song phương (thay vì đa phương). Cần lưu ý rằng, ngoại trừ Philippines, tất cả các quốc gia tranh chấp ở Biển Đông đã đàm phán thành công ranh giới biển với một hoặc nhiều các quốc gia láng giềng.[41]

Trong Phán quyết về thẩm quyền 2015, Tòa trọng tài đã bước đầu đạt được kết quả trên khi tách vấn đề đảo hay đảo đá ra khỏi việc sở hữu các thực thể và sau đó trong Phán quyết 2016 khẳng định rằng tất cả các thực thể liên quan là đá. Cuối cùng khẳng định rằng đường chín đoạn không có cơ sở pháp lý theo UNCLOS.

Kết quả trong Vụ kiện đã dọn đường cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông không chỉ giữa Trung Quốc và Phillippines mà còn giữa các quốc gia tranh chấp khác tại khu vực này..

Trong quá trình tạo lập triển vọng  giải quyết tranh chấp cho Biển Đông liên quan đến phân tích đảo/ đảo đá, có thể thấy Tòa được thúc đẩy bởi thể chế/nguyên tắc bổ trợ. Trong bối cảnh thiết lập ranh giới biển song phương,  các tòa trước đó đã thừa nhận rằng một số thực thể cụ thể là đảo hoặc đá mà không có áp dụng hay giải thích một cách rõ ràng  Điều 123(3),[42] một điều khoản tương đối mập mờ và thực tiễn quốc gia không đưa ra cách phân biệt thống nhất đảo/đá. Tòa ủng hộ quan điểm trong việc tạo ra các ngưỡng tiêu chuẩn cao để từ đó các thực thể trở thành một đảo và được hưởng vùng 200 hải lsy dựa trên mục đích chính của UNCLOS là tối đa hóa Di sản chung của Nhân loại và hạn chế chủ nghĩa bành trướng của các quốc gia ven biển.[43] Do Tòa giải thích một cách cẩn trọng từ ngữ đảo/đá, khó có thể kết luận khác ngoài việc khẳng định là Tòa đã tạo ra khuôn khổ hoặc hướng đi cho các quốc gia và các tòa trong tương lai xác định thực thể nào là đảo và thực thể nào là đá.

Có thể nhận xét rằng khi tòa quyết định có thẩm quyền thì kết quả có thể nằm trong dự đoán. Con đường duy nhất có thể giải quyết tranh chấp biên giới biển giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông là tách biệt các thực thể trở thành đá và loại bỏ các yêu sách lịch sử của Trung Quốc đối với tài nguyên trong EEZ của quốc gia khác. Đương nhiên, kết quả bây giờ đã rõ ràng và tác giả thú nhận là đã không dự đoán được kết quả.

Hiệu quả (hoặc tác động) của phán quyết quốc tế không phải lúc nào cũng được đánh giá bởi các phản ứng trước mắt của các quốc gia tranh chấp hoặc có liên quan. Sự tuân thủ đương nhiên luôn là kết quả được ưu tiên. Rất khó để Trung Quốc công khai tuân thủ phán quyết của Tòa về các vấn đề như đã phân tích trong tương lai gần và có lẽ là sẽ không bao giờ. Thực chất , Trung quốc có thể đã “coi thường nó [phán quyết]” và đang “hướng tới kiểm soát hoàn toàn Biển Đông”.[44]

Về ngắn hạn, Phán quyết 2016 không gây bất ổn cho tranh chấp Biển Đông. Phán quyết có vẻ như đã thúc đẩy các quốc gia liên quan tìm cách hạ nhiệt lời qua tiếng lại, hiềm khích và các hành động đối đầu. Tuy nhiên mức độ tương tác của xu hướng này với  Phán quyết cũng như với các khía cạnh khác thì vẫn chưa rõ ràng. Phán quyết 2016 có thể đã thúc đẩy nguyện vọng của Trung Quốc và ASEAN xem xét kĩ hơn Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông.[45] Hiện tại vẫn chưa rõ liệu Bộ Quy tắc nếu được kí kết, có khác so với Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông 2002 hay không,[46] nhưng Tuyên bố 2002 đã tạo ra một số hợp tác giữa các quốc gia ở Biển Đông và phần nào ngăn chặn các hoạt động đối đầu trong khoảng thời gian đến năm 2009 khi tình hình đột ngột đảo chiều.

Đối lập với khoảng thời gian liệt kê ở trên là khi có thông tin rằng, tháng 7/2017 Trung Quốc “đe dọa tấn công căn cứ của Việt Nam tại Trường Sa” nếu Việt Nam không dừng các hoạt động thăm dò trong khu vực Biển Đông nơi mà cả hai quốc gia đều có những hợp đồng khai thác.[47]

Tòa đã tạo ra một con đường để giải quyết tranh chấp dựa trên việc áp dụng UNCLOS, một con đường từ lâu đã được các quốc gia ven Biển Đông nhận thức rất rõ và ủng hộ. Liệu các quốc gia liên quan tại Biển Đông có lựa chọn con đường này và tìm kiếm một giải pháp thay thế hoặc thực hiện chính sách chấp thuận bất đồng  hay không đồng thời duy trì chính sách chung không đối đầu, tự do hàng hải và các tuyến liên lạc quan trọng, tất cả vẫn chưa thực sự rõ ràng.

Richard Falk, một trong những luật sư quốc tế nổi tiếng và gây tranh cãi nhất vào cuối thế kỷ 20, đã từng tuyên bố rằng các luật sư quốc tế “phải luôn giữ tinh thần lạc quan như một điều kiện của nghề nghiệp”[48] Việc hướng theo sự lạc quan này và hiểu rằng tất cả các quốc gia đều hưởng lợi từ quan hệ ổn định dựa trên các nguyên tắc pháp luật, Phán quyết 2016 có thể được coi là một cách thúc đẩy ổn định ở Biển Đông. Có hay không việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết không phải là một phép thử giá trị của nó. Giá trị của Phán quyết nằm ở chỗ liệu các quốc gia trong khu vực và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thông trong khu vực có tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên hay không.

Ted L. McDorman, Đại học Victoria, Victoria, British Columbia, Canada. Đây là bản chỉnh sửa của bài viết được trình bày tại Hội thảo Cơ chế Đại dương Toàn cầu, “Vai trò của Luật pháp quốc tế và Giới hạn: Trật tự trên biển ở châu Á sau Phán quyết vụ kiện Biển Đông” 19-21/6,2017 tại Seoul do  Viện Nghiên cứu biển Hàn Quốc tổ chức. Bài viết được đăng trên  Asia-Pacific Journal of Ocean Law and Policy, 3  (2018).

Quách Huyền (dịch)

Thu Hương (hiệu đính

 


[1] Liên quan đến Phán quyết Biển Đông (Philippines và Trung Quốc), có Phán quyết về Thẩm quyền và Khả năng tiếp nhận (29/10/2015) và Phán quyết (12/7/2016) trên website của Tòa trọng tài thường trực, tại https://pca-cpa.org/

[2] Phán quyết, chú thích 1, đoạn 1203, B(6) và (7).

[3] Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, 10/12/1982, 1833 U.N.T.S. 397.

[4] Phán quyết, chú thích 1, đoạn 1203, B(1) và (2).

[5] Xem Sophia Kopela, “Historic Titles and Historic Rights in the Law of the Sea in the Light of the South China Sea Arbitration” (2017) 48 Ocean Development and International Law 181–207 và Yoshifumi Tanaka, “Reflections on the Interpretation and Application of Article 121(3) in the South China Sea Arbitration (Merits)” (2017) 48 Ocean Development and International Law, 365–385.

[6] Xem“Công hàm”Trung Quốc, số (13) tr-1039, 19 /2//2013, trong bản Cáo trạng của Philippines, Tập iii, Phụ lục 3, website pca, chú thích 1.

[7] Xem “Công hàm”Trung Quốc 29/7/2013, trong bản Cáo trạng của Philippines, chú thích 6, Phụ lục 4, trên website pca, chú thích 1.

[8] Trung Quốc, “Tuyên bố của Bộ Ngoại giao về Phán quyết về Thẩm quyền và Khả năng tiếp nhận của Tòa Trọng tại Biển Đông được thiết lập theo yêu cầu của Philippines”, 30/10/2015, trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1310474.shtml.

[9] Trung Quốc, “Tuyên bố của Bộ Ngoại giao về Phán quyết 12/7/2016 của Tòa Trọng tại Biển Đông được thiết lập theo yêu cầu của Philippines”, 30/10/2015, trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại www.fmprc.gov.cn/nanhai/eng/
snhwtlcwj_1/t1379492.htm.

[10] Xem Yuval Shany, Assessing the Effectiveness of International Courts (Oxford: Oxford University Press, 2014), tr. 4–5 và 117–125

[11] Vụ Fisheries Jurisdiction (Đức v Iceland), Phán quyết về Thẩm quyền [1973] i.c.j. Reports 43 và Phán quyết về các vấn đề thực chất [1974] i.c.j. Báo cáo 75; Vụ Fisheries Jurisdiction (Anh v. Iceland), Phán quyết về Thẩm quyền, [1973] i.c.j. Reports 3 và Phán quyết về các vấn đề thực chất, [1974] i.c.j. Báo cáo 3.

[12] Vụ Nuclear Test (Úc v Pháp), [1974] i.c.j. Báo cáo 253 và Nuclear Test (New Zealand v. Pháp), [1974] i.c.j. Báo cáo 457.

[13] Vụ United States Diplomatic and Consular Staff in Tehran, [1980] i.c.j. Báo cáo 3.

[14] Vụ Case concerning Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. Mỹ), Phán quyết về Thẩm quyền, [1984] i.c.j. Báo cáo 392 và Phán quyết về các vấn đề thực chất, [1986] i.c.j. Báo cáo 14, Mỹ không có mặt ở giai đoạn xét xử thực chất.

[15] Xem: Liên Bang Nga, Công hàm, Số. 11945, 22/10/2013 chuyển tới Hà Lan, trong đó khẳng định phía Nga không chấp nhận thủ tục trọng tài theo Phụ lục VII… được khởi xướng bở Hà Lan và không tham gia vụ kiện trước Tòa Luật biển quốc tế liên quan đến yêu cầu của Hà Lan về thời hiệu của các biện pháp tạm thời, xem trên website của Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS), tại www.itlos.org. Xem thêm Vụ The “Arctic Sunrise” (Hà Lan v. Liên bang Nga), Provisional Measures Order, 22/11/2013, xem trên website của ITLOS; The “Artic Sunrise”Arbitration (Hà Lan v Liên Bang Nga), Phán quyết về Thẩm quyền,  26/11/2014 và Phán quyết về các vấn đề thực chất, 14/8/201, trên website pca, chú thích 1.

[16] Xem T.L. McDorman, “The South China Sea Arbitration and the Future of the Law of the Sea Convention Dispute Settlement Regime” (2017), 14 Soochow Law Journal 43–60.

[17] Xem: Trung Quốc , “Quan điểm về vấn đề thẩm quyền trong vụ kiện Biển đông được khởi xướng bởi Philippines,”, 7/12/2014, trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại www.fmprc.gov.cn/nanhai/eng/snhwtlcwj_1/t1368899.htm.

[18] Trung Quốc, Tuyên bố 25/8/2006, xem tại website của Ủy ban Luật biển và các vấn đề đại dương của Liên hợp quốc tại www.un.org/Depts/los/index.htm.

[19] Xem: Phán quyết về Thẩm quyền, chú thích 1, đoạn 155–156.

[20] Như trên, đoạn 366.

[21]  Phán quyết, chú thích 1, đoạn 229.

[22] Như trên, đoạn 1202 (A)(1).

    Như trên, đoạn 1203 (B)(1 và 2).

[23] Như trên, đoạn 225. Xem T.L. McDorman, “The 2016 South China Sea Arbitration: Comments on the Nine-Dash Line and Historic Rights” in Proceedings: Public International Law Colloquium on Maritime Disputes (Hong Kong: Hong Kong International Arbitration Centre, 2016), tr. 312–325.

[24] Shany, chú thích 10 tr.37.

[25] Như trên, tr.40-41.

[26] Như trên, tr.33: “Nguồn gốc của tính hợp pháp bắt nguồn rực tiếp hoặc gián tiếp từ nguồn gốc dựa trên nhà nước của thẩm quyền được thực hiện  bởi tòa án quốc tế có thể bị xói mòn nếu tòa án được coi là đi chệch khỏi những kỳ vọng rõ ràng của các nhà ủy quyền… Thậm chí một số trường hợp mà quyền lực ban cho các tòa án quốc tế sự tự do và độc lập đáng kể ... các tòa án phải chịu 'áp lực hợp pháp' hạn chế tự do hành động theo ý họ. ”Xem thêm các trang 109–111.

[27] Như trên, tr.43

[28] Như trên, tr.39.

[29] Như trên, tr.123-124.

[30] Phán quyết, chú thích 1 đoạn 246 và xem thêm đoạn 261.

[31] Vụ Delimitation of the Maritime Boundary in the Gulf of Maine Area (Canada/Mỹ), [1984] i.c.j. Báo cáo 246.

[32] Phán quyết, chú thích 1, đoạn 256 và xem thêm đoạn 270.

[33] Như trên, đoạn 252.

[34] Như trên, đoạn 270.

[35] Như trên, đoạn 254.

[36] Như trên, đoạn 261.

[37] Xem: Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke and Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (The Hague: Martinus Nijhoff, 1997).

[38] Vụ Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia), [2002] i.c.j. Báo cáo  625.

[39] Vụ Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), [2008] i.c.j. Báo cáo 12. Vào tháng 6 năm 2017, Malaysia đã đệ đơn xin Tòa án Quốc tế yêu cầu giải thích về quyết định này. Xem: Tòa án Tư pháp Quốc tế, Thông cáo báo chí, "Malaysia yêu cầu giải thích về Phán quyết ngày 23 tháng 5 năm trong vụ liên quan đến chủ quyền đối với Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge (Malaysia/Singapore)” tại <www.icj-cij.org/
files/case-related/170/170-20170630-PRE-01-00-EN.pdf>.

[40] Đệ trình chung giữa Malaysia và Việt Nam lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa theo Điều 76, khoản 8 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 về phía Nam của Biển Đông, Tóm tắt, tháng 5 năm 2009, và Đệ trình của Việt Nam lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa theo Điều 76, khoản 8 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, đệ trình một phần liên quan đến thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: Khu vực phía Bắc (vnm-n), Tóm tắt, tháng 4 năm 2009. Tất cả các tài liệu này có sẵn trên trang web của Ủy ban, tại www.un.org/Depts/los/clcs_new/clcs_home.htm. Xem T.L. McDorman, “The South China Sea after 2009: Clarity of Claims and Enhanced Prospects for Regional Cooperation?” (2010), 24 Ocean Yearbook 507–535.

[41] Xem T.L. McDorman, “Central Pacific and East Asian Maritime Boundaries” trong D.A. Colson and R.W. Smith, eds., International Boundaries, Vol. v (Leiden: Martinus Nijhoff, 2005), tr. 3442–3447; T.L. McDorman and Clive Schofield, “Indonesia-Viet Nam,” trong D.A. Colson and R.W. Smith, eds., International Boundaries, Vol. vi (Leiden: Martinus Nijhoff, 2011), tr. 4301–4315; và Clive Schofield and I Made Andi Arsana, in Coalter G. Lathrop, ed., International Boundaries, Vol. vii (Leiden: Martinus Nijhoff, 2016), tr. 34947–4961.

[42] Công ước Luật biển, chú thích 3, Điều 121:

1. Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

2. Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.

3. Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

[43] Phán quyết, chú thích 1, đoạn 535.

[44] Ely Ratner, “How to Stop China’s Maritime Advance,” (2017, July/August) 96 Foreign Affairs 64, tr 68.

[45] “Draft a Sign of Progress on South China Sea Code of Conduct,” New York Times, 19/5/2017 and “What a new agreement means for the South China Sea,” The Economist, 30/5/2017, <www.economist.com/blogs/economist explains/2017/05/economist-explains-25>.

[46] Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông, 4/12/2002, trên website của ASEAN tại http://www.aseansec.org/13163.htm.

[47] Xem: Bill Hayton, “South China Sea: Vietnam halts drilling after ‘China threats,’” 24 /7/2017, BBC News tại www.bbc.com/news/world-asia-40701121 and Carl Thayer, “Alarming Escalation in the South China Sea: China Threatens Force if Vietnam Continues Oil Exploration in Spratlys,” The Diplomat, 24 /7/ 2017, tại <thediplomat.com/2017/07/alarming-escalation-in-the-south-china-sea-china-threatens-force-if-vietnam-continues-oil-exploration-in-spratlys/>. Xem thêm: “Oil on Troubled Waters”, The Economist, 22/1/2015, tại <www.economist.com/news/asia/21640403-two-case-studies-disputed-sea-oil-troubled-waters>

[48] Richard Falk, “The Future of International Law” in American Society of International Law, Proceedings of the 75th Convocation (1981), tr. 10.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7216 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin