23 - 10 - 2018 | 7:49
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Mối quan hệ Ấn - Nhật: Sự nổi lên của quan hệ đối tác toàn cầu

Mối quan hệ Ấn - Nhật: Sự nổi lên của quan hệ đối tác toàn cầu

Email In PDF.

Hợp tác giữa hai nước đã trở thành một thành tố quan trọng đóng góp vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản tin rằng sẽ là khôn ngoan nếu thu hút sự tham gia của Trung Quốc về mặt kinh tế cũng như an ninh. Điều này có thể làm cho Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong khu vực.

 

65 năm đã trôi qua kể từ khi Ấn Độ và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong giai đoạn này, hai nước đã phát triển mối quan hệ bền vững và mạnh mẽ dựa trên sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Mặc dù có khoảng cách tâm lý vốn bị chia rẽ bởi sự khác biệt về ý thức hệ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng hai nước đã có đủ sáng suốt để phát triển các mối liên kết hữu ích trong hợp tác thương mại và kinh tế.

Về hợp tác chính trị chiến lược

Quan hệ song phương đã chứng kiến sự thay đổi mô hình từ năm 2000 khi hai nước tìm cách tạo ra một quan hệ đối tác toàn cầu mới. Cho đến thời điểm đó, mối quan hệ Ấn Độ-Nhật Bản chủ yếu chỉ giới hạn trong các cam kết kinh tế như nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và thương mại. Ngày nay, mối quan hệ đó đã đa dạng hơn và đan xen nhiều lợi ích bao gồm an ninh khu vực và toàn cầu, chống khủng bố, giải trừ vũ khí hạt nhân, an ninh hàng hải, hợp tác về năng lượng, biến đổi khí hậu và cải tổ Liên hợp quốc. Sự hiểu biết lẫn nhau về lợi ích quốc gia và ngoại giao đã được cải thiện rõ rệt, trong khi sự hội tụ chiến lược cũng như điểm tương đồng về quan điểm có xu hướng gia tăng và tạo ra cơ hội chưa từng có cho một mối quan hệ đối tác gần gũi hơn. Hai nước chia sẻ nhiều mối quan tâm và lợi ích chung ở khu vực.

Được biết sẽ có một sự thay đổi chiến lược trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong vòng 10 hoặc 20 năm tới, cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều mong muốn tăng cường hợp tác để đảm bảo rằng một sự thay đổi lớn như vậy, và khi nó xảy ra, sẽ không làm mất cân bằng quyền lực trong khu vực. Là hai nền dân chủ sôi động, Ấn Độ và Nhật Bản muốn đóng góp vào sự phát triển của một trật tự khu vực mới, mở cửa, đa cực, dựa trên luật pháp và không có sự thống trị của bất kỳ một quốc gia đơn phương nào.

Sau tuyên bố vào năm 2000 của Thủ tướng Yoshiro Mori về mối quan hệ đối tác toàn cầu giữa Ấn Độ và Nhật Bản, cả hai nước đã hành động nhanh chóng để bổ sung thêm các nội dung chiến lược cho quan hệ đối tác. Năm 2005, Thủ tướng Shinzo Abe và người đồng cấp Ấn Độ Manmohan Singh đã mở rộng quan hệ đối tác toàn cầu với các vấn đề chiến lược, đồng thời hai bên đã tạo ra một số cơ chế bao gồm cả việc tăng cường hợp tác ở hội nghị thượng đỉnh hàng năm. Một số cơ chế đối thoại khác ở cấp bộ trưởng và thứ trưởng trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, hàng hải và hợp tác năng lượng cũng đã được thiết lập để thúc đẩy mối quan hệ đối tác đa tầng. Toàn bộ quá trình đó đã được làm nổi bật khi hai nước ký Tuyên bố về Hợp tác an ninh vào tháng 10/2008. Điều này thể hiện tầm quan trọng mà Tokyo giành cho Ấn Độ trong khi trên thực tế Nhật Bản chỉ có một thoả thuận tương tự với Mỹ và Úc. Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng của tuyên bố là nhấn mạnh tới nhu cầu phối hợp chính sách song phương trong các vấn đề khu vực cũng như hợp tác trong các diễn đàn đa phương ở châu Á như Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

Trong bối cảnh này, điều quan trọng cần lưu ý là cả ông Manmohan Singh và ông Taro Aso (sau đó là Thủ tướng Nhật Bản) đã nhấn mạnh rằng quan hệ đối tác giữa Ấn Độ và Nhật Bản không hướng tới bất kỳ nước thứ ba nào và ít nhất là Trung Quốc. Mặc dù có những vấn đề song phương với Trung Quốc, nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều tin tưởng vào sự tham gia của Bắc Kinh về kinh tế cũng như an ninh. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ và Nhật Bản. Quan hệ mật thiết với Trung Quốc là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hòa bình khu vực. Cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đều hiểu rằng trong bất kỳ cấu trúc nào của trật tự khu vực trong tương lai, Trung Quốc sẽ là nhân vật nổi bật và sẽ là khôn ngoan khi tìm cách lồng ghép Trung Quốc vào dòng chảy chính của khu vực và biến Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm.

Tiếp sau tuyên bố đó, sự phát triển quan hệ giữa Ấn Độ và Nhật Bản chứng tỏ sự hội tụ nhiều hơn các lợi ích chiến lược giữa hai nước. Điển hình là đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa chính sách “Hành động hướng Đông” của Thủ tướng Modi và chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở và tự do” của Thủ tướng Abe. Ngoài ra, sáng kiến mới nhất của hai nước là thúc đẩy hình thành tuyến Hành lang tăng trưởng Á-Phi nhằm cải thiện kết nối kinh tế và cơ sở hạ tầng ở cả hai châu lục và đây có thể là dự án cung cấp một giải pháp thay thế cho sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Ngoài ra, hai nước cũng đã thành lập hai diễn đàn 3 bên với Mỹ, Úc và thường xuyên họp để thảo luận về tình hình chiến lược đang thay đổi ở châu Á bao gồm các vụ thử tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên, sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, Biển Đông, khủng bố và thiên tai.

Về hợp tác quốc phòng-an ninh

Hợp tác quốc phòng giữa hai nước cũng đã chứng kiến những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây. Bộ trưởng quốc phòng hai nước gặp nhau trong các cuộc đối thoại quốc phòng hàng năm để thảo luận về một loạt vấn đề liên quan đến hợp tác song phương. Thủ tướng Modi đã bày tỏ sự hết sức quan tâm tới việc thúc đẩy Nhật Bản đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực sản xuất quốc phòng của Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng đáng kể các quy định của mình để chào đón các công nghệ nước ngoài lớn hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Chính phủ Nhật Bản cũng đã sửa đổi chính sách chuyển giao công nghệ quốc phòng cho nước ngoài. Có một thực tế, tình huống “cùng thắng” đã được cả hai quốc gia sử dụng. Các cuộc đàm phán về việc Ấn Độ mua các thủy phi cơ US-2i của Nhật Bản có thể là một ví dụ điển hình cho sự hợp tác song phương này.

Trong khi đó, an ninh hàng hải là một chủ đề quan trọng khác mà cả hai nước đều có các lợi ích hội tụ. Cả hai đều cam kết tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không và thương mại hợp pháp không bị cản trở trong các vùng biển rộng mở. Về các tranh chấp ở Biển Đông, họ đã khẳng định rằng tất cả các bên liên quan đến tranh chấp cần tìm kiếm một giải pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc có các hành động đơn phương. Trong bối cảnh này, cần lưu ý rằng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đã thực hiện một số bước đi cụ thể để bảo vệ an ninh hàng hải khi cả hai đều phụ thuộc vào thương mại biển. Ngoài việc tiến hành các cuộc tập trận hải quân song phương, Nhật Bản đã tham gia thường xuyên các cuộc tập trận hải quân 3 bên “Malabar” hàng năm với Mỹ và Ấn Độ từ năm 2015.

Về hợp tác kinh tế và đầu tư

Hợp tác kinh tế vẫn tiếp tục tạo nền tảng cho mối quan hệ đối tác Ấn-Nhật Bản và ông Modi quan tâm đến việc đảm bảo sự tham gia của Nhật Bản trong một số dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. ODA của Nhật Bản đang được sử dụng để hiện đại hóa các ngành then chốt ở Ấn Độ bao gồm giao thông, truyền thông, điện, thủy lợi, cảng biển, môi trường và y tế. Đặc biệt quan trọng là sự trợ giúp của Nhật Bản đối với việc thành lập các hệ thống vận tải tập trung ở các thành phố lớn như Bangalore, Chennai, Kolkata và Mumbai. Ấn Độ là nước đầu tiên nhận ODA của Nhật Bản vào năm 1958, và trở thành nước nhận viện trợ lớn nhất từ Tokyo kể từ năm 2005. Nhật Bản cũng tham gia sâu vào một số dự án hàng đầu ở Ấn Độ như Hành lang vận tải Delhi-Mumbai, Hành lang công nghiệp Delhi-Mumbai và Hành lang công nghiệp Chennai-Bangalore. Những sự hợp tác này sẽ làm thay đổi bản đồ công nghiệp của Ấn Độ trong những năm tới.

Trong chuyến thăm gần đây nhất tới Ấn Độ và tham dự hội nghị thượng đỉnh song phương lần thứ tư, ông Abe và ông Modi đã dự lễ chính thức khởi công xây dựng hệ thống tàu điện cao tốc đầu tiên của Ấn Độ, nối từ thành phố Mumbai tới Ahmedabad. Điều này đã mang lại tầm quan trọng đáng kể cho ông Abe khi quan tâm đến việc cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng cao của Nhật Bản cho các nước châu Á. Nhiều người tin rằng dự án Mumbai-Ahmedabad có thể thiết lập một tiêu chuẩn cho các nước khác.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Ấn Độ đã khuyến khích Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ, vốn vẫn còn lạc hậu do thiếu cơ sở vật chất và hạ tầng. Nhật Bản hiện đang tham gia thực hiện một số dự án quan trọng trong khu vực bao gồm xây dựng đường cao tốc, điện, nước thải, quản lý nước và tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản đã thành lập một cơ quan điều phối để tăng cường việc thực hiện hiệu quả các dự án khác nhau. Về thương mại và đầu tư, theo các cuộc khảo sát của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ấn Độ là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất của Nhật Bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. FDI tích lũy của Nhật Bản ở Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 3/2017 lên tới 25,6 tỷ USD, và trở thành nhà đầu tư lớn thứ ba ở Ấn Độ. FDI của Nhật Bản chiếm 8% tổng lượng FDI của Ấn Độ.

Cuộc gặp thượng đỉnh song phương mới đây đã tạo cơ hội cho lãnh đạo hai nước thực hiện các biện pháp thúc đẩy dòng đầu tư của Nhật Bản. Tuy nhiên, khối lượng thương mại song phương vẫn còn thấp cho dù hai nước đã ký Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) từ năm 2011. CEPA vẫn không tạo ra những kết quả như mong đợi. Do đó, cả hai nước cần phải tìm kiếm những thay đổi trong CEPA để đảm bảo rằng thương mại song phương sẽ có những tiến bộ đáng kể trong vài năm tới.

Tóm lại, có thể thấy rằng quan hệ đối tác Ấn Độ-Nhật Bản đã chứng kiến nhiều sự thay đổi quan trọng kể từ năm 2000. Hợp tác giữa hai nước đã trở thành một thành tố quan trọng đóng góp vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và mối quan hệ đó được thúc đẩy bởi sự kết hợp của các yếu tố chiến lược và kinh tế. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tạo ra mối quan tâm chiến lược chung. Nhưng cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản tin rằng sẽ là khôn ngoan nếu thu hút sự tham gia của Trung Quốc về mặt kinh tế cũng như an ninh. Họ tin rằng sự tham gia tích cực về kinh tế cùng với sự minh bạch hơn trong chiến lược quân sự của Trung Quốc có thể làm cho Bắc Kinh trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong khu vực và thậm chí góp phần tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn giữa các nước trong khu vực.

K.V.Kesavan,  chuyên gia nghiên cứu cao cấp thuộc Viện nghiên cứu các nhà quan sát Ấn Độ (ORF). Bài viết được đăng trên Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương (IAPS).

Văn Cường (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đài Loan mắc kẹt trong cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ

Đài Loan mắc kẹt trong cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đe dọa nền kinh tế xuất khẩu và phát triển công nghệ của hòn đảo tự trị Đài Loan, vốn phụ thuộc rất nhiều vào các chuỗi cung ứng của Trung Quốc đại lục.

Đọc tiếp...

Lộ trình chiến lược của Ấn Độ

Lộ trình chiến lược của Ấn Độ

Các tín hiệu chiến thuật thể hiện tình hữu nghị của Trung Quốc đối với Ấn Độ có khả năng là không kéo dài. Trong nay mai, Trung Quốc có khả năng sẽ quay sang chống lại Ấn Độ, trừ khi New Delhi sẵn sàng ủng hộ hoặc tiếp tục giữ thái độ trung lập đối với các chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Căng thẳng chiến lược Trung-Mỹ dưới thời Tập Cận Bình và Donald Trump: Vấn đề cũ, cách tiếp cận mới

Căng thẳng chiến lược Trung-Mỹ dưới thời Tập Cận Bình và Donald Trump: Vấn đề cũ, cách tiếp cận mới

Sau vài tháng trong tình trạng không chắc chắn, Tổng thống Donald Trump đã làm lung lay những tham vọng của Trung Quốc. Trái ngược với hy vọng ban đầu, cảm giác vỡ mộng lan khắp Bắc Kinh. Đối với Bắc Kinh, sự thất vọng đến từ thực tế rằng Tổng thống Trump đã tỏ ra phức tạp hơn mức mà ban lãnh đạo Trung Quốc từng hy vọng có thể kiềm chế.

Đọc tiếp...

Tìm kiếm một chiến lược khả thi cho khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương

Tìm kiếm một chiến lược khả thi cho khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương

Để có thể thành công, Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và mở buộc phải thuyết phục được các lãnh đạo trong khu vực rằng Hoa Kỳ đang xây dựng một trật tự khu vực đáng để tham gia. Quan trọng nhất là việc các nguyên tắc và ý tưởng mang tính khả thi và Hoa Kỳ phải chứng minh được sự sẵn sàng cũng như khả năng thực hiện tầm nhìn của họ.

Đọc tiếp...

Rào cản khi Nga-Indonesia xích lại gần nhau

Rào cản khi Nga-Indonesia xích lại gần nhau

Đối với Nga, Indonesia lâu nay là một địa bàn tiềm năng nhưng không được chú trọng trong chính sách Hướng Đông của Nga. Tuy nhiên, từ năm 2012, Nga đã rất quan tâm đến việc thúc đẩy quan hệ với các quốc gia châu Á, trong đó có Indonesia.

Đọc tiếp...

Mỹ và phương Tây cần tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc

Mỹ và phương Tây cần tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc

"Dự án thế kỷ" của Chủ tịch Tập Cận Bình có thể giúp một số nền kinh tế nhưng cái giá chính trị những nước này phải trả là vô cùng lớn. Theo đó Mỹ và các nước phương Tây cần tham gia sáng kiến này, không nên để Trung Quốc "một mình một ngựa" vẽ ra "một trật tự thế giới mới" trong đó Trung Quốc sẽ nắm vai trò dẫn dắt.

Đọc tiếp...

Viễn cảnh biến động địa chính trị thế giới thời gian tới

Viễn cảnh biến động địa chính trị thế giới thời gian tới

Xung đột lớn sẽ diễn ra trên 3 đấu trường lớn: Châu Âu, Đông Nam Á và Trung Đông. Những dự đoán này có vẻ cực đoan, thậm chí là kỳ cục đối với những bạn đọc từ hàng thập kỷ nay quen với sự ổn định tương đối của thế giới. Tuy nhiên, cần phải nhớ nhiều điểm cốt yếu đã diễn ra trong lịch sử.

Đọc tiếp...

Hợp tác địa kinh tế Mỹ-Ấn trong bối cảnh Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc

Hợp tác địa kinh tế Mỹ-Ấn trong bối cảnh Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc

Mỹ và Ấn Độ có cơ hội để cùng xác định và triển khai một tầm nhìn địa kinh tế cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, họ vẫn cần phải vượt qua nhiều trở ngại khó khăn. Những nỗ lực từ Mỹ đều thất thường và đôi khi là thất sách trong khi đó, lịch sử và danh tiếng của Ấn Độ trong việc làm việc với các thể chế kinh tế đa phương khá hỗn tạp.

Đọc tiếp...

Những điều chỉnh chính sách của Nhật Bản với khu vực Đông Nam Á trong nhiệm kỳ 2 của chính phủ Shinzo Abe

Những điều chỉnh chính sách của Nhật Bản với khu vực Đông Nam Á trong nhiệm kỳ 2 của chính phủ Shinzo Abe

Bài viết tập trung phân tích chính sách của Nhật Bản với khu vực Đông Nam Á trong nhiệm kỳ 2 của chính quyền Thủ tướng Shinzo Abe, đồng thời bài viết cũng thảo luận về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, đưa ra một số khuyến nghị về biện pháp của Việt Nam trong hợp tác toàn diện với với Nhật Bản.

Đọc tiếp...

Phân tích lý thuyết trò chơi tam giác chiến lược của Dittmer

Phân tích lý thuyết trò chơi tam giác chiến lược của Dittmer

Bài nghiên cứu này sẽ giới thiệu khung lý thuyết trò chơi tam giác chiến lược do Lowell Dittmer xây dựng năm 1981 dựa trên mối quan hệ của ba siêu cường Mỹ - Liên Xô - Trung Quốc, và phân tích tác dụng cũng như hạn chế của khung lý thuyết này.

Đọc tiếp...

Liệu cuộc gặp Trump-Kim có dẫn tới nền hòa bình lâu dài?

Liệu cuộc gặp Trump-Kim có dẫn tới nền hòa bình lâu dài?

Đây là một cuộc gặp mang tính lịch sử. Nhưng liệu chiến lược “mất trí” ngẫu nhiên của Trump có thực sự hiệu quả hay không? Nếu câu trả lời là không thì đây hoàn toàn sẽ là một trò đùa đáng thất vọng, một màn kịch câm, hai cái tôi trong cuộc chơi vô nghĩa.

Đọc tiếp...

Năm câu hỏi lớn sau cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim

Năm câu hỏi lớn sau cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim

Cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Donald Trump và nhà lãnh đạo Kim Jong-un thu hút sự quan tâm của toàn thế giới đã diễn ra theo đúng kế hoạch. Cuộc gặp này có thể diễn ra thực sự đã vượt ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Tuy nhiên sau cuộc gặp này, còn nhiều vấn đề cũng được đặt ra.

Đọc tiếp...

Các vấn đề then chốt trong đàm phán Mỹ-Triều

Các vấn đề then chốt trong đàm phán Mỹ-Triều

Cần phải có một cách tiếp cận theo từng giai đoạn đối với việc phi hạt nhân hóa vì trên thực tế, việc vạch ra một lộ trình phi hạt nhân hóa toàn diện sẽ đòi hỏi phải có một số giai đoạn hoạt động, vì lý do đơn giản là cả Washington và Bình Nhưỡng sẽ không nhất trí khởi động tiến trình này với những nhượng bộ tế nhị hay tốn kém nhất được đưa ra ngay từ đầu.

Đọc tiếp...

Lầu Năm Góc và kế hoạch cho “cuộc chiến trường kỳ” chống Trung Quốc và Nga

Lầu Năm Góc và kế hoạch cho “cuộc chiến trường kỳ” chống Trung Quốc và Nga

Sự tập trung vào Trung Quốc và Nga trong việc lập kế hoạch quân sự của Mỹ phản ánh cách mà các quan chức quân sự hàng đầu hiện đang đánh giá lại cán cân chiến lược toàn cầu, một tiến trình đã bắt đầu từ rất lâu trước khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng.

Đọc tiếp...

Lựa chọn khả thi nào cho tổng thống Donald Trump trong vấn đề Triều Tiên?

Lựa chọn khả thi nào cho tổng thống Donald Trump trong vấn đề Triều Tiên?

Vấn đề trọng tâm là liệu Chính quyền Trump có sẵn sàng suy nghĩ lại về chính sách của Mỹ với Triều Tiên và theo đuổi các chiến lược có thể giúp ổn định tình hình thay vì giải quyết nó hay không. Kết quả đó ít lý tưởng hơn, nhưng các chính sách tốt không phải chỉ là những chính sách đáng mong muốn, mà chúng phải là những chính sách khả thi.

Đọc tiếp...

Cơn sóng thần chính trị mới của Malaysia?

Cơn sóng thần chính trị mới của Malaysia?

Trong vận động tranh cử, Thủ tướng Mahathir Mohamad, 92 tuổi, từng nhiều lần chỉ trích cựu Thủ tướng Najib Razak, lại còn cam kết sau cuộc bầu cử phải xem xét lại điều khoản hợp tác giữa Trung Quốc và Malaysia, thậm chí còn dự định khởi động lại đàm phán Biển Đông. Sự thay đổi đảng cầm quyền ở Malaysia liệu có đưa tới biến số trong quan hệ Trung Quốc-Malaysia hay không?

Đọc tiếp...

Ấn Độ-Việt Nam: Quan hệ đối tác chiến lược đang phát triển mạnh mẽ

Ấn Độ-Việt Nam: Quan hệ đối tác chiến lược đang phát triển mạnh mẽ

Những xu hướng gần đây trong mối quan hệ Ấn Độ-Việt Nam đã được ban lãnh đạo chính trị hai nước cam kết thúc đẩy mạnh mẽ. Đây chính là động lực giúp mối quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vững mạnh hơn trong tương lai, đặc biệt là trong bối cảnh chính trị, kinh tế khu vực và quốc tế đang có sự điều chỉnh.

Đọc tiếp...

Tương lai quan hệ Malaysia - Trung Quốc sau bầu cử 2018

Tương lai quan hệ Malaysia - Trung Quốc sau bầu cử 2018

Sau chiến thắng gây sốc của phe đối lập trong cuộc bầu cử lần thứ 14 ở Malaysia tuần qua, nhiều người cho rằng sự ra đi của Thủ tướng Najib Razak có thể dẫn đến một cách tiếp cận mới trong chính sách đối ngoại của Malaysia và ảnh hưởng đến quan hệ giữa Malaysia với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang thay đổi hay cải thiện trật tự thời hậu chiến?

Trung Quốc đang thay đổi hay cải thiện trật tự thời hậu chiến?

Việc Mỹ rõ ràng rút bỏ quan điểm ủng hộ toàn cầu hóa, cùng sự thiếu nhiệt tình của họ trong việc duy trì các cấu trúc kinh tế và an ninh thời hậu chiến mà họ giúp thiết lập và dẫn dắt, đã mở ra các cơ hội cho Trung Quốc - nền kinh tế thứ 2 thế giới - đảm nhiệm các nghĩa vụ quốc tế lớn hơn đi kèm sự trỗi dậy của họ.

Đọc tiếp...

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Nếu Trung Quốc không kiểm điểm lại sâu sắc chính sách của mình đối với Triều Tiên mà chỉ đơn giản đẩy trách nhiệm cho nước khác, thì đây là sai lầm lịch sử và quốc gia cuối cùng bị thiệt hại sẽ là Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7248 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin