13 - 11 - 2019 | 10:09
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Nhật - Ấn và giấc mơ Ấn Độ - Thái Bình Dương

Nhật - Ấn và giấc mơ Ấn Độ - Thái Bình Dương

Email In PDF.

Nếu Mỹ mong muốn một “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở”, như Ngoại trưởng Rex Tillerson đã hối thúc và Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thảo luận trong cuộc gặp gần đây giữa họ ở Tokyo, thì sẽ không có 2 cường quốc nào quan trọng bằng Ấn Độ và Nhật Bản.

 

Hai nước này nằm trong số các quốc gia quan ngại nhất về an ninh trong khu vực và cũng ngày càng sẵn sàng cộng tác với nhau về vấn đề này. Mối quan hệ giữa 2 quốc gia - vốn xa xôi về mặt lịch sử và chiến lược - đã phát triển ngày càng mạnh mẽ dưới sự quản lý của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, với việc thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp cao (Abe đã tới New Delhi để thăm Modi vào tháng 10/2017) kết hợp với những sự trao đổi ngày càng thường xuyên và sâu sắc hơn ở các cấp độ ngoại giao, quốc phòng và kinh doanh.

Lý do khiến 2 quốc gia này đến với nhau là nỗi lo âu chiến lược chung về sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là các tham vọng chính sách đối ngoại của nước này ở châu Á. Đối với 2 nước này, sự quyết đoán trên biển của Bắc Kinh ở các biển Hoa Đông và Biển Đông cũng như ở khu vực Ấn Độ Dương, và việc nước này thúc đẩy mở rộng tầm ảnh hưởng địa chính trị của mình vượt ra ngoài khu vực Đông Á thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) và Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) là đặc biệt đáng báo động. Để đáp lại, Ấn Độ và Nhật Bản có cùng cảm giác về mục đích của việc thúc đẩy trật tự hiện tại trong khu vực, vốn được dựa trên các thể chế minh bạch, sự quản trị tốt và luật pháp quốc tế, và làm lợi cho 2 nước này bằng việc đảm bảo các chuỗi cung ứng an toàn và quyền tiếp cận công bằng tới nguồn lực.

Ngoài các mối quan ngại chung của 2 quốc gia về sự trỗi dậy của Trung Quốc, còn có mối lo âu rằng uy tín của Mỹ đang suy yếu. Bất chấp các nỗ lực “tái cân bằng” sang châu Á-Thái Bình Dương của Chính quyền Barack Obama, Washington đã không thể làm dịu đi các mối quan ngại của khu vực rằng ảnh hưởng của nước này đang giảm sút. Tình cảm như vậy đã tồn tại từ trước khi Trump đắc cử tổng thống, nhưng đã được khuếch đại bởi chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” của Nhà Trắng dưới thời Trump, chính sách dựa trên chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa giao dịch thay vì một cách tiếp cận toàn diện hơn tới khu vực. Việc rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - mà phần lớn đã được 11 nước còn lại trong thỏa thuận nhất trí về mặt nguyên tắc gần đây - đã làm gia tăng hơn nữa sự không chắc chắn trong số các đối tác và đồng minh của Mỹ.

Mặc dù Mỹ vẫn can dự vào khu vực thông qua một loạt khuôn khổ song phương và 3 bên, nhưng New Delhi và Tokyo nhận thấy tầm quan trọng của việc xây dựng các mối quan hệ ngoại giao mang tính bổ trợ mà phần lớn liên kết với Washington nhưng không do Mỹ dẫn dắt. Hai nước này đã thiết lập đối thoại 3 bên Nhật Bản-Ấn Độ-Úc, vốn tồn tại một cách độc lập với các khuôn khổ bao gồm cả Mỹ. Cơ chế này hoạt động ở cấp bộ máy chính quyền, cho phép Canberra, New Delhi và Tokyo xem xét các quan điểm chung về an ninh khu vực và việc hiệp lực trong các vấn đề như xây dựng năng lực và hợp tác trong giúp đỡ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Và vào tháng 9, trong một tuyên bố chung, 2 bên đã nhất trí liên kết 2 chiến lược khu vực của họ: chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở của Nhật Bản và chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ.

Cách tiếp cận của Tokyo tập trung vào việc liên kết tư thế an ninh và quốc phòng đang tiến triển của họ, mà họ gọi là “sự đóng góp chủ động vào hòa bình”, với tầm nhìn rộng mở hơn về các chuỗi cung ứng then chốt của khu vực, vốn trải dài từ Đông Phi tới Hawaii. Việc Nhật Bản tiếp nhận “sự hội tụ của 2 vùng biển” - như được ông Abe vạch ra lần đầu tiên cách đây hơn 1 thập kỷ - bổ sung cho cách tiếp cận khu vực của Ấn Độ, được gọi là Hành động hướng Đông. Chính sách này là một kiểu tiến triển từ chính sách cũ Hướng Đông của Ấn Độ và nhắm tới việc củng cố chiến lược của Ấn Độ ở Đông Á thông qua các liên kết mạnh mẽ hơn với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (đặc biệt là Myanmar, Singapore, Việt Nam) và đương nhiên là với Nhật Bản. Sự trỗi dậy nhanh chóng và sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc trong khu vực đã tạo ra mối quan ngại ở New Delhi và thúc đẩy sự cần thiết phải có một cách tiếp cận khu vực mạnh mẽ hơn.

Tương tự, khía cạnh an ninh và quốc phòng cũng có nhiều động lực. Các lực lượng phòng vệ Nhật Bản tiếp tục tăng cường hợp tác với quân đội Ấn Độ, đặc biệt là trong các vấn đề an ninh biển. Tokyo và New Delhi đã ký kết các thỏa thuận về việc chia sẻ thông tin quân sự và trao đổi công nghệ phòng thủ. Cũng đã có tiến bộ trong việc hoàn tất các kế hoạch bị trì hoãn từ lâu của Ấn Độ mua máy bay đổ bộ US-2 của Nhật Bản, một động thái mà sẽ đặt nền tảng cho sự hợp tác quốc phòng hơn nữa trong những năm tới, nhưng đã bị trì hoãn trong nhiều năm do mong muốn của Ấn Độ hạ thấp chi phí cho mỗi đơn vị cũng như các câu hỏi về tính thích hợp của việc chuyển giao công nghệ phòng thủ. Dường như thỏa thuận này có thể sớm được thông qua - như được thể hiện qua sự lạc quan ngày càng gia tăng về vấn đề này trong các cuộc gặp gỡ cấp cao kế tiếp nhau giữa Abe và Modi - và sẽ thể hiện một bước đi then chốt tiếp theo trong mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Nhật Bản.

Ở một chừng mực nào đó, tình hữu nghị giữa Nhật Bản và Ấn Độ cũng đang củng cố các mối quan hệ của họ với Mỹ. Năm 2016, New Delhi và Washington đã ký kết một bản Thỏa thuận ghi nhớ trao đổi về logistics được mong đợi từ lâu, cho phép mỗi nước sử dụng các cơ sở của nước kia cho việc tiếp nhiên liệu, sửa chữa và các vấn đề hậu cần khác. Trong khi đó, Tokyo đã phối hợp ăn ý các nỗ lực cải thiện phòng thủ của mình cùng với New Delhi với những sự tăng cường trong quan hệ Mỹ-Ấn. Và cách đây vài tháng, Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản đã hoạt động tác chiến cùng với hải quân Mỹ và Ấn Độ trong cuộc tập trận hải quân Malabar thường niên. Sau khi tham gia với tư cách là một thành viên đặc biệt trong nhiều năm, năm 2015 Nhật Bản đã trở thành thành viên thường trực trong các cuộc tập trận này. Cuộc tập trận Malabar năm nay ở vịnh Bengal đã tập hợp hơn 20 tàu, trong đó có tàu hải quân lớn nhất của Nhật Bản là chiếc JS Izumo, và gần 100 máy bay từ cả 3 nước. Quả thực, Malabar đã trở thành chất xúc tác cho hợp tác an ninh ngày càng tăng giữa Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản, và được bổ trợ bởi một loạt cuộc gặp ngoại giao cấp cao, bao gồm một cuộc họp giữa các bộ trưởng ngoại giao của họ vào tháng 9 ở New York bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Đổi lại, hợp tác an ninh 3 bên đã dẫn tới sự hội tụ ngày càng tăng giữa Washington và New Delhi về các vấn đề an ninh, bao gồm cả vấn đề về Afghanistan lẫn an ninh biển. Tháng 9/2017, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã tới thăm New Delhi và nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ đối tác 3 bên trong khu vực, với Nhật Bản là đối tác quan trọng nhất. Thật vậy, bất chấp sự gắn bó lâu dài với phong trào không liên kết, Ấn Độ dưới thời Modi ngày càng được khuyến khích đảm nhận một vai trò mạnh mẽ hơn ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Về mặt ngoại giao, New Delhi không biện hộ cho những nghi ngại của họ đối với BRI của Trung Quốc và từ chối cử bất kỳ đại diện nào tới lễ khai mạc diễn đàn BRI lớn của Bắc Kinh hồi đầu năm nay. Về mặt an ninh, New Delhi đã tăng cường quan hệ với Mỹ và Nhật Bản và cũng từ chối rút quân trong một cuộc tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc vào tháng 9 vừa qua về vùng lãnh thổ bị tranh chấp ở nước Bhutan lân cận. Hơn nữa, New Delhi đã công khai phát đi tín hiệu cho thấy những quan ngại của mình về sự quyết đoán trên biển ngày càng tăng của Bắc Kinh bằng cách nhất trí khôi phục các cuộc hội đàm 4 bên với Úc, Nhật Bản và Mỹ sau 10 năm tạm dừng - một động thái mà Bắc Kinh chắc chắn sẽ coi là khiêu khích.

Vẫn còn nhiều không gian cho hợp tác lớn hơn nữa giữa New Delhi và Tokyo, đặc biệt trong khi cả hai vẫn còn thận trọng với Trung Quốc. New Delhi nhận thấy Tokyo là một đối tác tự nhiên, với các khả năng phòng thủ ngày càng tăng, đã phát triển và nuôi dưỡng nhiều mối quan hệ chủ chốt trong khu vực. Và Tokyo nhìn nhận New Delhi như là một nước tạo thế cân bằng địa chính trị quan trọng, bất chấp sự khác biệt nào đó trong tư duy chiến lược, đang ngày càng sẵn sàng tăng cường và đóng góp cho an ninh khu vực vượt ngoài cuộc xung đột khó giải quyết với Pakistan.

Mặc dù Ấn Độ và Nhật Bản chia sẻ các mối quan ngại chung, nhưng vẫn chưa rõ các chiến lược của họ sẽ hội tụ như thế nào trong thực tế. Từ góc độ an ninh biển, điều dễ hiểu là Nhật Bản chủ yếu vẫn lo ngại về các tuyến đường biển và kiềm chế hành vi hung hăng của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Biển Đông. Trong khi đó, Ấn Độ vẫn tập trung vào khu vực Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc đã mở rộng cơ sở hạ tầng và đầu tư vào Bangladesh, Maldives, Pakistan và Sri Lanka.

Nhưng những ưu tiên khu vực khác nhau này không nhất thiết phải là điểm gây tranh cãi. Quả thực, cả hai bên cần thừa nhận rằng lợi ích của họ trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mở rộng đều bổ trợ lẫn nhau – 2 nước hợp tác trên nhiều vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải mà không cần nhân đôi nỗ lực. Chẳng hạn, cả hai bên cần đều đặn chia sẻ các khả năng tác chiến của họ, ví dụ như trong việc phòng vệ và trang bị cho lực lượng bảo vệ bờ biển, và thông qua huấn luyện và các chiến lược xây dựng năng lực ở Nam Á và Đông Nam Á. Việc chia sẻ như vậy có thể được chính thức hoá cùng với các đối tác có chung tư tưởng khác, đặc biệt là Mỹ và Úc, và nằm trong khuôn khổ các cuộc tham vấn 4 bên được tổ chức trở lại.

Nhật Bản và Ấn Độ cũng phải hoàn tất các cuộc đàm phán về việc New Delhi mua máy bay US-2. Việc mua sắm này sẽ là một cột mốc quan trọng trong việc cải thiện mối quan hệ đối tác trong lĩnh vực quốc phòng, công nghiệp và mua sắm trong khi vẫn đem lại cho Ấn Độ khả năng tuần tra lãnh hải rộng lớn của mình, bao gồm quần đảo Andaman và Nicobar. Cuối cùng, Tokyo và New Delhi cần làm việc để mở rộng phạm vi hợp tác của 2 nước ngoài các vấn đề hàng hải bằng cách mở rộng các cuộc trao đổi và đối thoại về các vấn đề như chống khủng bố, an ninh mạng và bảo vệ cơ sở hạ tầng trọng yếu.

Hợp tác mạnh mẽ giữa Ấn Độ và Nhật Bản có tiềm năng thúc đẩy tính minh bạch, các tuyến đường biển mở và việc tuân thủ luật pháp quốc tế trong khu vực. Nhưng nếu họ thất bại, các quốc gia trong khu vực này chắc chắn sẽ thu hẹp các lợi ích quốc gia của họ và thu nhỏ các khối trong khu vực - một kịch bản có lợi cho cách tiếp cận của Bắc Kinh nhằm làm xói mòn việc tập hợp các nhóm “tiểu đa phương” mà họ coi là đối chọi với các lợi ích của họ.

J. Berkshire Miller là nhà nghiên cứu liên kết cấp cao Học viện Nghiên cứu các Vấn đề Quố tế Nhật Bản, Tokyo. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Nhật Bản và Philippines cuối cùng cũng đã tổ chức được vòng đầu tiên của Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng mới vào đầu tháng này. Mặc dù cơ chế này chỉ là một trong nhiều sự tiến triển trong quan hệ song phương, song có ý nghĩa đối với mối quan hệ an ninh, cũng như tổng thể mối quan hệ song phương nói chung.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trước những áp lực của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc đã chuyển hướng sang Nga. Tuy nhiên thực tế là Nga và Trung Quốc không phải là những đồng minh tự nhiên và họ nghi ngờ về từng động thái của nhau nhiều hơn là tin tưởng, điều này sẽ hủy hoại và làm cho bất kỳ thỏa thuận song phương nào mà họ có thể đạt được bị thất bại. Kết quả là Trung Quốc sẽ thấy mình thực sự bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào những nước mà họ đã kiểm soát để duy trì việc vận hành nền kinh tế của mình.

 

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Bên cạnh những thách thức về kinh tế trong nước, Tập Cận Bình còn phải đối mặt với một nước Mỹ đang nhanh chóng mở rộng khả năng quân sự. Không dừng ở đó, ông Tập cũng phải đối mặt với các khả năng quân sự ngày càng mở rộng của Nhật Bản, Đài Loan và Philippines.  

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Cơ hội “từ trên trời rơi xuống” dành cho Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và thương mại thực sự đã qua. Hiện Trung Quốc đang vấp phải sự phản ứng dữ dội từ các nước trong khu vực và đặc biệt là từ Mỹ với một vị tổng thống dường như muốn đối đầu với Trung Quốc trên mọi mặt trận và bằng mọi cách.

Đọc tiếp...

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ luôn là vấn đề được giới chiến lược, học thuật ở Trung Quốc và nước ngoài tập trung thảo luận và nghiên cứu. Nhưng những phân tích thực nghiệm cụ thể lại khá ít, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực chính trị và an ninh. Bài viết sẽ tập trung vào sách lược cạnh tranh đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, phân tích mục tiêu, lộ trình và triển vọng phát triển của chiến lược này, đưa ra đánh giá mang tính thử nghiệm về tác động có thể có của chiến lược này đối với hợp tác “Vành đai và Con đường”.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Đài Loan sắp tới sẽ phải đối mặt với một thời kỳ đáng ngại. Chiến lược phòng thủ của Đài Loan đang trở nên phi logic trong khi Trung Quốc lại đang tiến gần tới khả năng thực hiện tuyên bố “thống nhất Đài Loan” của mình.

Đọc tiếp...

Nga “ngả vào” Trung Quốc - Mối đe dọa đối với Hàn Quốc?

Nga “ngả vào” Trung Quốc - Mối đe dọa đối với Hàn Quốc?

Sự hợp tác ngày càng gia tăng giữa Bắc Kinh và Moskva dường như đang giúp Nga mạnh bạo hơn khi thể hiện năng lực cũng như thách thức sức mạnh của mạng lưới liên minh của Mỹ ở Đông Bắc Á.

Đọc tiếp...

Ấn Độ - Hi vọng lớn nhất của Mỹ ở châu Á

Ấn Độ - Hi vọng lớn nhất của Mỹ ở châu Á

Trong hai thập kỷ qua, Washington đã đặt nhiều hi vọng vào Ấn Độ trên vũ đài thế giới. Rộng lớn, đông dân và giàu tài nguyên, xét theo tất cả các biểu hiện bề ngoài, Ấn Độ là một cường quốc đã sẵn sàng. Và với tư cách là nền dân chủ lớn nhất thế giới, theo những hi vọng đó, nước này hứa hẹn sẽ trở thành đối tác quan trọng của Mỹ vào thời điểm cuộc cạnh tranh giữa các bên thách thức đang ngày càng gia tăng.

Đọc tiếp...

Năm điều Mỹ cần cân nhắc khi đối phó Trung Quốc

Năm điều Mỹ cần cân nhắc khi đối phó Trung Quốc

Chính quyền của Tổng thống Trump đang đối đầu với Trung Quốc theo một cách khó có thể thúc đẩy thế cạnh tranh của Mỹ hay thu hút được sự ủng hộ rộng rãi. Cuối tháng trước, ông Trump đã ra một tuyên bố cứng rắn: “Chúng tôi không cần Trung Quốc, và thành thật mà nói, chúng tôi còn tốt hơn nếu không có họ”.

Đọc tiếp...

Bước tiếp theo trong xây dựng quan hệ quân sự Ấn-Trung

Bước tiếp theo trong xây dựng quan hệ quân sự Ấn-Trung

Cuộc đối đầu tại Doklam ở lãnh thổ Bhutan năm 2017 kéo dài 73 ngày trong địa hình hiểm trở và nguy hiểm dọc theo Đường kiểm soát thực tế (LAC) là phép thử đối với tinh thần cũng như cách thức giải quyết vấn đề của quân đội hai nước.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt-Mỹ thời tổng thống Trump

Quan hệ Việt-Mỹ thời tổng thống Trump

Trước những phát ngôn chỉ trích của Tổng thống Mỹ Donald Trump về sự lạm dụng đối tác trong vấn đề thương mại của Việt Nam, mối quan hệ giữa hai quốc gia thực sự không hề chứng kiến một sự chuyển biến tiêu cực.

Đọc tiếp...

Tranh chấp thương mại Trung - Mỹ sẽ đi về đâu?

Tranh chấp thương mại Trung - Mỹ sẽ đi về đâu?

Cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ bắt đầu từ tháng 3/2018, cho đến nay, cùng với những đòn trừng phạt và trả đũa nối tiếp nhau, những tổn thất trực tiếp mà cả hai bên phải gánh chịu là điều dễ dàng nhận thấy. Những đòn trừng phạt và trả đũa ấy liệu đơn thuần chỉ nhắm đến lợi ích kinh tế, hay bên trong còn ẩn chứa những mục tiêu mang tính chiến lược và liệu rằng cuộc thương chiến này có đi đến hồi kết?

Đọc tiếp...

Yếu tố khiến Trung-Nga xích lại gần nhau

Yếu tố khiến Trung-Nga xích lại gần nhau

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và chiến dịch trừng phạt kéo dài của Washington đối với Moskva đã thúc đẩy việc tăng cường quan hệ kinh tế và năng lượng giữa hai nước láng giềng phương Đông.

Đọc tiếp...

Cảnh giác trước Trung Quốc, Ấn Độ củng cố quan hệ với các nước láng giềng

Cảnh giác trước Trung Quốc, Ấn Độ củng cố quan hệ với các nước láng giềng

Để củng cố và nâng cao hơn nữa vị thế của bản thân trong khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng đẩy mạnh các hoạt động lôi kéo các nước khác, Ấn Độ dưới thời ông Modi buộc phải có những bước đi đúng đắn và khôn khéo, thúc đẩy mối quan hệ gắn bó và tốt đẹp với các nước láng giềng là một trong số đó.

Đọc tiếp...

Mỹ và các đồng minh cần thể hiện sự quan tâm thực sự ở Đông Nam Á

Mỹ và các đồng minh cần thể hiện sự quan tâm thực sự ở Đông Nam Á

Đông Nam Á là khu vực rất quan trọng đối với Trung Quốc, tạo ra “thế tiến thoái lưỡng nan ở eo biển Malacca”. Khoảng 80% tổng nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc đi qua eo biển Malacca. Sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI) chủ yếu là một giải pháp để thoát khỏi tình thế khó xử này. 

Đọc tiếp...

Trước Trung Quốc, Washington chỉ còn cách tiếp cận duy nhất là đối đầu?

Trước Trung Quốc, Washington chỉ còn cách tiếp cận duy nhất là đối đầu?

Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ gán mác cho Trung Quốc là một "cường quốc theo chủ nghĩa xét lại". Trong khi, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ Christopher Wray đã gọi Trung Quốc là "một mối đe dọa toàn xã hội".

Đọc tiếp...

Trump tấn công hệ thống thương mại toàn cầu

Trump tấn công hệ thống thương mại toàn cầu

Sau khi chỉ trích thương mại tự do trong lúc vận động tranh cử chức Tổng thống Mỹ, ông đã biến chủ nghĩa dân tộc về kinh tế trở thành tâm điểm trong chương trình nghị sự của mình.Với việc coi thường các quy tắc thương mại quốc tế, Chính quyền Trump đã làm suy giảm vị thế của Mỹ trên thế giới và khiến các chính phủ khác phải cân nhắc việc sử dụng các công cụ tương tự để hạn chế thương mại một cách độc đoán.

Đọc tiếp...

Hiểm họa hạt nhân hiện nay lớn hơn thời Chiến tranh Lạnh?

Hiểm họa hạt nhân hiện nay lớn hơn thời Chiến tranh Lạnh?

Hiện tại có 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Trong đó, chỉ có 2 nước - Trung Quốc và Ấn Độ - xác nhận cam kết “không sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên”, mặc dù Ấn Độ đã bắt đầu rút lại cam kết này dưới thời chính quyền Thủ tướng Modi.

Đọc tiếp...

Phản ứng của châu Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Phản ứng của châu Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Khi Trung Quốc xâm nhập sâu hơn vào châu Á và các nơi khác trên thế giới, nhiều nhà quan sát đã dự đoán rằng ngày Bắc Kinh trở thành bá chủ thống trị các nước láng giềng chỉ còn là vấn đề thời gian. Nhưng câu chuyện về sự thống trị tất yếu của Trung Quốc này dựa trên những giả định chủ chốt quá thường xuyên không được xem xét kỹ lưỡng. Chặng đường của Trung Quốc tiến tới vị thế hàng đầu khu vực có thể chông chênh hơn dự kiến.

Đọc tiếp...

ASEAN giữa trò chơi địa chiến lược Mỹ-Trung

ASEAN giữa trò chơi địa chiến lược Mỹ-Trung

Cuộc tập trận AUMX diễn ra tại căn cứ hải quân Sattahip ở tỉnh Chon Buri của Thái Lan gần một năm sau khi ASEAN tiến hành một cuộc tập trận hàng hải tương tự với Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Quảng Đông. Điểm mâu thuẫn là sự kình địch ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc trong khi nguyên tắc của ASEAN là duy trì tính trung tâm và cân bằng địa chính trị của khối giữa hai siêu cường này.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5376 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin