27 - 5 - 2018 | 4:25
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Khía cạnh địa chính trị của sự đồng thuận Bắc Kinh-Moskva

Khía cạnh địa chính trị của sự đồng thuận Bắc Kinh-Moskva

Email In PDF.

Bất chấp mọi rủi ro, quan hệ Trung-Nga đã phát triển thành sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn. Việc tích hợp "Vành đai và Con đường" của Trung Quốc và Liên minh kinh tế Á-Âu của Nga sẽ có những tác động lớn đối với cả Châu Á và phương Tây.

Vào cuối những năm 1950, việc quan hệ Trung-Nga xấu đi đã mở đường cho cuộc gặp lịch sử giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Mao Trạch Đông vào năm 1972. Kết quả của cuộc gặp đó là Thông cáo Thượng Hải, và một mặt là bắt đầu sự hòa hoãn Trung-Mỹ, mặt khác là việc kiềm chế Liên Xô ở châu Á-Thái Bình Dương, một sự chia rẽ sẽ xác định quan hệ giữa hai nước cộng sản này trong nhiều thập kỷ sau đó. 

Chỉ đến khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, thì bất chấp các thách thức còn tồn tại như các tranh chấp lãnh thổ và vấn đề nhập cư trái phép ở vùng Viễn Đông Nga, quan hệ Trung-Nga mới bắt đầu "tan băng". Hai nước đã bỏ lại đằng sau những sự bất đồng về tư tưởng vì một cách tiếp cận thực dụng hơn dựa trên việc theo đuổi các lợi ích được chia sẻ và chống lại các mối đe dọa chung như là nét đặc trưng chỉ đạo của sự hợp tác được khôi phục của họ. Bất chấp những dự đoán tiêu cực hơn, tiến trình nối lại quan hệ này đã cải thiện một cách vững vàng qua thời gian. 

Năm 1992, Tổng thống Boris Yeltsin đã tới thăm Trung Quốc. Năm 1993, hai nước đã ký một thỏa thuận quân sự, tiếp sau đó là thỏa thuận hợp tác chiến lược đầu tiên giữa hai nước vào năm 1996, và một số thỏa thuận khác: Hiệp ước láng giềng thân thiện, hữu nghị và hợp tác năm 2001; việc thành lập Tổ chức hợp tác Thượng Hải; và quan hệ đối tác chiến lược năm 2012, được nâng cấp hơn nữa vào năm 2014. Trong khi đó, một mối quan hệ cá nhân gần gũi đã phát triển giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin. 

Quan hệ chặt chẽ hơn được đánh dấu bởi mạng lưới các thỏa thuận phức tạp và đang mở rộng này và các quan hệ cá nhân đã có kết quả, đặc biệt là trong các lĩnh vực buôn bán vũ khí, chuyển giao công nghệ quân sự và các thỏa thuận về năng lượng. Cũng đã có sự tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực quan hệ quân sự mà ở đó, bất chấp sự cần thiết phải duy trì mức độ răn đe đáng tin cậy, Trung Quốc và Nga đã cho thấy mức độ tin tưởng lẫn nhau chưa từng thấy, như đã được xác nhận bởi Lý Huy, Đại sứ Trung Quốc tại Nga, và bởi số lượng ngày càng gia tăng các cuộc diễn tập quân sự chung giữa hai nước. 

Nhưng điều thực sự là điển hình của sự tin tưởng ngày càng gia tăng mà hai nước dành cho nhau là việc ký kết thỏa thuận hợp nhất Liên minh kinh tế Á-Âu (EEU), dự án "con cưng" của Putin, và Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) do Trung Quốc dẫn dắt. Nếu thành công, BRI-EEU ở Trung Á sẽ đánh dấu một bước đi nữa hướng tới việc củng cố quan hệ Trung-Nga, với các tác động quan trọng đối với cả châu Á lẫn phương Tây. 

BRI và EEU: "Trái dấu thì hút nhau" 

Khi Tập Cận Bình tuyên bố phát động Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) vào năm 2013, cả Nga và phương Tây đều bị bất ngờ. Cụ thể, một nước Nga phải gánh chịu các biện pháp trừng phạt dường như có lý do thích hợp để lo lắng rằng BRI có thể làm suy yếu hơn nữa vị thế của nước này ở Trung Á, "sân sau" của Nga. Nhiều đánh giá khác nhau cùng chỉ về một hướng bi quan như vậy, đặc biệt là trong bối cảnh hai sáng kiến này dường như khác biệt đáng kể về tổ chức thể chế và các mục tiêu chiến lược. Hai sáng kiến này quả thực rất khác nhau. BRI là một dự án mở toàn cầu tập trung vào thương mại, là hiện thân của bản chất của chiến lược "đi ra ngoài" của Trung Quốc và là một sứ giả của thương mại toàn cầu hóa và chủ nghĩa đa cực với các đặc trưng Trung Quốc. EEU thay vào đó lại là một dự án hòa nhập thương mại "hướng nội" được vạch ra nhằm cho phép Nga duy trì sự kiểm soát các nước láng giềng Trung Á của mình, và kiềm chế sự mở rộng của Liên minh châu Âu (EU) hoặc Mỹ ở các khu vực đó. Bất chấp triển vọng bi quan, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nga mặc dù vậy đã tiếp tục phát triển thịnh vượng, và các kế hoạch của hai nước nhằm tạo lập một khu vực thịnh vượng chung dưới sự kiểm soát Trung-Nga ở Trung Á cũng vậy. 

Các động lực của sự hợp tác Trung-Nga 

Bản chất của quan hệ thân thiện Nga-Trung dường như dựa trên sự bổ trợ, sự tương hỗ, các lợi ích được chia sẻ và các mối đe dọa chung ở mức độ cao. Trong mối quan hệ này, Trung Quốc và BRI của nước này đóng vai trò bên tạo khả năng toàn cầu, với việc Trung Quốc thúc đẩy mô hình của nước này đồng thời đem lại "chiếc phao cứu sinh" rất cần thiết đối với nền kinh tế Nga và EEU. Thay vào đó, vai trò của Nga dường như đang được định hình để trở thành vai trò của một bên đem lại sự ổn định khu vực, phục vụ cho lợi ích chung của cả hai quốc gia.

Đối với Trung Quốc, sự hỗ trợ của Nga ở Trung Á đem lại nhiều lợi thế. Thứ nhất, ảnh hưởng và hiểu biết của Nga về các động lực khu vực có thể chuyển thành sự giảm nhẹ đáng kể các rủi ro và việc loại bỏ một vài chướng ngại vật đối với các dự án BRI, giảm bớt phí tổn và tối đa hóa lợi ích. Trung Quốc cũng sẽ có được quyền tiếp cận trực tiếp tới Trung Á, điều này đem lại cơ hội có một không hai để phát triển các thị trường, các trung tâm chế tạo, và thậm chí các thành phố mới dọc theo Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa (SREB). Thứ hai, việc Nga chấp nhận sự can thiệp của Trung Quốc ở Trung Á sẽ cho phép Trung Quốc đóng vai trò trực tiếp trong việc an ninh hóa và hình thành chế độ của khu vực, đặc biệt là liên quan đến các sáng kiến chống nổi loạn nhằm ngăn chặn người Duy Ngô Nhĩ thiết lập những nơi trú ẩn an toàn trong khu vực. Cuối cùng, mô hình quan hệ này có tiềm năng đặt nền móng cho việc thiết lập một không gian địa chính trị cốt lõi dưới sự kiểm soát của riêng Trung-Nga ở khu vực Á-Âu, vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng của EU và Mỹ, ở một khu vực có vị trí chiến lược nằm giữa các thị trường đang phát triển của Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á và các thị trường giàu có của châu Âu. 

Nga thu được gì từ việc này? Các biện pháp trừng phạt mà Mỹ và EU áp đặt lên Nga như là hậu quả của việc nước này sáp nhập Crimea, và các hành động đang tiếp diễn chống lại Ukraine, kết hợp với giá dầu mỏ đi xuống, đã gây ra những thiệt hại khổng lồ đối với thương mại của Nga và quan hệ của nước này với châu Âu và Mỹ. Tình trạng sa sút diễn ra do đó đang đẩy Nga vào con đường bị cô lập về chính trị và kinh tế. Điều này đã buộc Nga rời xa phương Tây và tìm kiếm các thị trường thay thế ở các khu vực khác trên thế giới, nhằm tránh khỏi các biện pháp trừng phạt và tìm kiếm những đầu ra mới cho nền kinh tế Nga. 

Vì những lý do này, Nga đã bắt đầu coi châu Á-Thái Bình Dương như một con đường khả thi để mở rộng các thị trường của nước này và của EEU. Theo quan điểm này, việc tích hợp với BRI có thể đem lại cho EEU kênh thương mại đặc quyền tới các thị trường châu Á-Thái Bình Dương, đem lại cho Nga cơ hội có một không hai để thúc đẩy chiến lược "hướng Đông" của Nga. Được trợ giúp bởi sự suy giảm tương đối của Mỹ, mà chỗ trống của nước này đang được lấp đầy bởi ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc trong khu vực, sự chuyển dịch của Nga sang châu Á-Thái Bình Dương đã dẫn tới một loạt thỏa thuận thành công. Điều đó bao gồm việc ký kết một vài thỏa thuận thương mại quan trọng với Philippines và Indonesia; một thỏa thuận thương mại tự do quan trọng giữa EEU và Việt Nam; cũng như quan hệ thương mại gần gũi hơn với Hàn Quốc, một trong những nước đã từ chối thực thi các biện pháp trừng phạt chống lại Nga, một quyết định đã thúc đẩy quan hệ thương mại Hàn Quốc-Nga. 

Sự mở rộng của Nga ở châu Á-Thái Bình Dương đã diễn ra với sự ủng hộ thân thiện của Trung Quốc. Sự thâm nhập qua lại lẫn nhau vào các vùng ảnh hưởng địa chính trị của hai nước, trên cơ sở dường như là bình đẳng, dường như chỉ ra một mối quan hệ được ghi dấu bởi tính cân đối, sự bổ trợ và sự tương hỗ. 

Sự trỗi dậy của sự Đồng thuận Bắc Kinh-Moskva 

Việc hình thành một khối thân thiện Trung-Nga tồn tại lâu dài ở Trung Á cuối cùng có thể đưa một vùng đất lớn ở khu vực Á-Âu vào trong tầm ảnh hưởng của hai nước này. Trong một kịch bản như vậy, vai trò của Nga trong chiến lược lớn của Trung Quốc dường như không phải là một vai phụ cho Bắc Kinh - vai trò mà một quốc gia đầy tự tôn như Nga, với quá khứ là một siêu cường Chiến tranh Lạnh, sẽ không bao giờ chấp nhận - mà là một đối tác then chốt với vai trò bình đẳng trong một chiến lược lớn chung nhắm tới việc định hình lại trật tự thế giới. Mô hình quan hệ này, dù trong một hình dạng khác, có sự tương đồng mơ hồ với mô hình mà đế quốc Trung Hoa đã tiếp nhận với các nước triều cống của họ, nơi mà ảnh hưởng ôn hòa của Trung Quốc ở vùng ngoại vi có thể được bù đắp bởi ảnh hưởng mạnh mẽ của một đồng minh đáng tin cậy. 

Hai nước dường như chia sẻ mục tiêu chung là định hình một sự đồng thuận 2 chiều Bắc Kinh-Moskva. Trung Quốc được giao nhiệm vụ mở rộng mô hình của nước này ở cấp độ toàn cầu, trong khi Nga củng cố quyền lực của nước này ở khu vực Á-Âu, đóng vai trò thế lực khu vực mạnh mẽ tạo sự ổn định và thực thi các chính sách ngày càng hội tụ trong một không gian địa chính trị trọng yếu đối với các lợi ích của cả Nga và Trung Quốc. Lợi thế của mô hình này là tính bổ trợ của nó có thể thỏa mãn cả các tham vọng toàn cầu của Trung Quốc lẫn các mục tiêu khu vực và toàn cầu của Nga, cho phép cả hai nước cùng phát triển thịnh vượng và có được sự thống trị hầu như không bị thách thức đối với một vùng lãnh thổ rộng lớn ở khu vực Á-Âu, với các hệ quả đáng kể đối với các khu vực xa xôi hơn, chẳng hạn như Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á, Trung Âu và Đông Âu; tất cả những khu vực mà ở đó, như chúng ta đã và đang chứng kiến, ảnh hưởng của phương Tây đang phai mờ. 

Một đặc trưng kỳ lạ khác của khối thân thiện Bắc Kinh-Moskva là khả năng chống đỡ mà tính "đa thể thức" của nó mang lại. Không giống như Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, hệ thống Trung-Nga sẽ có thể cùng tồn tại sát cánh bên hệ thống quốc tế hiện tại do phương Tây dẫn dắt, với sự phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao trong một chế độ đa cực, toàn cầu hóa. Tuy nhiên, nó cũng sẽ có năng lực duy trì chức năng như một hệ sinh thái độc lập. Đó là vì hệ thống được thiết kế để kiểm soát một vùng đất rộng lớn, giàu tài nguyên ở khu vực Á-Âu và châu Á, nơi Trung Quốc và Nga có thể thực thi mô hình của họ, tái tạo các đặc trưng của trật tự quốc tế hiện tại, hoàn thiện nó với các thể chế, thị trường, cấu trúc an ninh, tiền tệ và các cơ chế chi trả của riêng nó, bỏ qua hệ thống dựa vào đồng USD nếu cần thiết. Kiểu tình trạng dư thừa này dường như được đưa ra để đem lại khả năng tồn tại và tính bền vững cho hệ sinh thái cốt lõi Trung-Nga, nếu mức độ đối lập giữa Trung Quốc, Nga và Mỹ leo thang đến mức phương Tây tìm cách cô lập Trung Quốc về kinh tế và chính trị như họ đã làm với Nga hiện nay và với Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. 

Một sự tổ chức như vậy có thể làm tê liệt ảnh hưởng của phương Tây ở các quốc gia Trung Á, nơi các hoạt động của BRI, EEU và EU hiện đang chồng chéo nhau, với những sự chuyển dịch làm thay đổi cục diện trong động lực khu vực và các hệ quả quan trọng đối với EU và Mỹ. Ở các khu vực khác, cũng có thể cảm nhận được hệ quả của sự thống trị Trung-Nga ở Trung Á. Ở Nam Á, các quốc gia như Pakistan và Afghanistan có thể hưởng lợi từ sự ổn định địa chính trị và sự tín nhiệm mà khối thân thiện Trung-Nga đem lại và tính liên tục trong thương mại có được nhờ việc tích hợp BRI-EEU. Ở một số quốc gia Trung và Đông Âu, tầm với ngày càng gia tăng về kinh tế của Trung Quốc và việc thiết lập một khối Trung-Nga vững chắc ở Trung Á có thể đe dọa sự cố kết của EU và gây ra một vấn đề địa chính trị hóc búa đối với Mỹ và NATO. Ở châu Á-Thái Bình Dương, chiến lược xây dựng ảnh hưởng của Trung Quốc, được thúc đẩy bởi một sự kết hợp khéo léo của ảnh hưởng kinh tế, ngoại giao công khai và sự quyết đoán không thường xuyên, đang góp phần thúc đẩy sự suy giảm của ảnh hưởng Mỹ. Trung Quốc đang lấp đầy khoảng trống mà sự lãnh đạo của Mỹ để lại, một sự lãnh đạo đã thất bại trong việc thực hiện một vài sáng kiến quan trọng, trong đó có kết quả mơ hồ của sự "xoay trục sang châu Á", việc chấm dứt Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cũng như sự thiếu lãnh đạo mà Mỹ đã cho thấy trước việc Trung Quốc xâm lấn một số cấu trúc địa hình ở Biển Đông, mà Trung Quốc đã biến chúng thành các hòn đảo nhân tạo được quân sự hóa và hầu như không bị thách thức. 

Kết luận 

Bất chấp mọi rủi ro, quan hệ Trung-Nga đã phát triển thành sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn, củng cố sự tồn tại của một dự án địa chính trị đa chiều phức tạp được thúc đẩy bởi các lợi ích và mối đe dọa chung. Hai nước dường như đã học được từ quá khứ rằng những sự chia rẽ là bất lợi khi đối mặt với các mối đe dọa chung, đặc biệt khi nói tới đối thủ chủ yếu của họ là Mỹ. 

Trong khi hiện tại Nga và Trung Quốc có được một kiểu quan hệ rất khác khi đối mặt với Mỹ, các tuyên bố gần đây của Tổng thống Donald Trump và lập trường của Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ, mà trong đó cả Trung Quốc lẫn Nga đều được định nghĩa là quốc gia theo chủ nghĩa xét lại, có thể báo hiệu rằng Trung Quốc và những thay đổi thất thường của nước này đã được cho quá nhiều quyền tự do. Mô hình của Trung Quốc, với tất cả những sự không phù hợp của nó, có thể đang trở nên quá khác biệt so với hệ thống do Mỹ dẫn dắt, đến mức 2 điều này không thể cùng chung sống dưới một mái nhà. Nếu đúng là như vậy, sẽ là hợp lý khi giả định rằng mối quan hệ hợp tác-cạnh tranh từng là đặc trưng của quan hệ Trung-Mỹ từ thời Chính quyền Obama sẽ chấm dứt. 

Việc Trung Quốc nối lại quan hệ với Nga dường như cho thấy rằng nước này đã nhận thức được rằng ở thời điểm nào đó, sự mở rộng của Trung Quốc và mô hình kỳ lạ của nước này có thể trở thành một mối đe dọa đủ nghiêm trọng để phương Tây biện minh cho sự trở lại của một chiến lược kiềm chế mang tính bảo thủ hơn. Mặc dù khó có thể chấp nhận trong thời đại có đặc trưng là sự ưu việt của thương mại và các thị trường, sự toàn cầu hóa, và sự phụ thuộc lẫn nhau ở mức cao về tư tưởng và chủ nghĩa bảo hộ, tiến trình hành động này có thể trở thành một lựa chọn khả thi nếu phương Tây quyết định rằng Trung Quốc và Nga đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự tồn tại của trật tự quốc tế hiện tại.

Enrico Cau là nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (GIIASS), đại học Tamkang, thành viên Hiệp hội Nghiên cứu Chiến lược Đài Loan (TSRA) và là thành viên Tổ chức nghiên cứu Quốc tế Philippines (PHISO). Bài viết được đăng trên The Diplomat.

Trần Quang (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ấn Độ-Việt Nam: Quan hệ đối tác chiến lược đang phát triển mạnh mẽ

Ấn Độ-Việt Nam: Quan hệ đối tác chiến lược đang phát triển mạnh mẽ

Những xu hướng gần đây trong mối quan hệ Ấn Độ-Việt Nam đã được ban lãnh đạo chính trị hai nước cam kết thúc đẩy mạnh mẽ. Đây chính là động lực giúp mối quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vững mạnh hơn trong tương lai, đặc biệt là trong bối cảnh chính trị, kinh tế khu vực và quốc tế đang có sự điều chỉnh.

Đọc tiếp...

Tương lai quan hệ Malaysia - Trung Quốc sau bầu cử 2018

Tương lai quan hệ Malaysia - Trung Quốc sau bầu cử 2018

Sau chiến thắng gây sốc của phe đối lập trong cuộc bầu cử lần thứ 14 ở Malaysia tuần qua, nhiều người cho rằng sự ra đi của Thủ tướng Najib Razak có thể dẫn đến một cách tiếp cận mới trong chính sách đối ngoại của Malaysia và ảnh hưởng đến quan hệ giữa Malaysia với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang thay đổi hay cải thiện trật tự thời hậu chiến?

Trung Quốc đang thay đổi hay cải thiện trật tự thời hậu chiến?

Việc Mỹ rõ ràng rút bỏ quan điểm ủng hộ toàn cầu hóa, cùng sự thiếu nhiệt tình của họ trong việc duy trì các cấu trúc kinh tế và an ninh thời hậu chiến mà họ giúp thiết lập và dẫn dắt, đã mở ra các cơ hội cho Trung Quốc - nền kinh tế thứ 2 thế giới - đảm nhiệm các nghĩa vụ quốc tế lớn hơn đi kèm sự trỗi dậy của họ.

Đọc tiếp...

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều có thể sử dụng quân bài hy sinh Trung Quốc

Nếu Trung Quốc không kiểm điểm lại sâu sắc chính sách của mình đối với Triều Tiên mà chỉ đơn giản đẩy trách nhiệm cho nước khác, thì đây là sai lầm lịch sử và quốc gia cuối cùng bị thiệt hại sẽ là Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những giới hạn trong sự can dự với Triều Tiên

Những giới hạn trong sự can dự với Triều Tiên

Trong suốt chiến dịch tranh cử vào ghế tổng thống mới của Hàn Quốc, ông Moon Jae-in đã hứa hẹn phục hồi chính sách ánh dương can dự với Triều Tiên. Dù tổng thống Hàn Quốc có cơ hội để thực hiện chính sách này hay không, chính sách Ánh dương vẫn tồn tại những hạn chế và đó là điều mà Hàn Quốc và cả Mỹ cần khắc phục.

Đọc tiếp...

Trung Quốc đang theo kiểu mô hình bá quyền khu vực như thế nào?

Trung Quốc đang theo kiểu mô hình bá quyền khu vực như thế nào?

Thời điểm ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và chính trị tại khu vực sẽ đến. Các đồng minh và đối tác của Mỹ tại khu vực có cần phải tăng cường nỗ lực phòng vệ riêng rẽ và đẩy mạnh hợp tác với quốc gia khác trong khu vực hay không và bằng cách nào?

Đọc tiếp...

Philippines: Chính sách đối ngoại nhằm đối phó với môi trường an ninh năng động

Philippines: Chính sách đối ngoại nhằm đối phó với môi trường an ninh năng động

Để hiểu được chính sách đối ngoại đang nổi lên của Duterte, cần phân tích giao điểm của 5 yếu tố then chốt: chủ nghĩa dân túy; sự tập trung quyền lực nhanh chóng trong tay Duterte; thiếu sự cam kết rõ ràng của Mỹ đối với Philippines ở Biển Đông; sự ve vãn của Trung Quốc nhằm thuyết phục Philippines gạt Phán quyết sang một bên; và cuối cùng là việc Duterte “cá nhân hoá” chính sách đối ngoại.

Đọc tiếp...

Giấc mộng toàn cầu của Trung Quốc – Ác mộng của láng giềng

Giấc mộng toàn cầu của Trung Quốc – Ác mộng của láng giềng

Những lời ca tụng sự hội nhập Á-Âu của Tập Cận Bình có thể bỏ qua sự bành trướng vốn thường bạo lực của Trung Quốc, nhưng lịch sử đó chưa bị các nước láng giềng của Trung Quốc lãng quên.

Đọc tiếp...

Mỹ tấn công Syria: Điều gì xảy ra tiếp theo?

Mỹ tấn công Syria: Điều gì xảy ra tiếp theo?

Ngày 7/4, Mỹ và đồng minh Anh, Pháp đã tấn công Syria. Câu hỏi đặt ra là hệ quả của cuộc tấn công sẽ như thế nào? Hành động của Mỹ có vi phạm luật pháp của chính nước Mỹ và luật pháp quốc tế hay không?

Đọc tiếp...

Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc

Vấn đề khó trong quan hệ Trung - Ấn và sách lược của Trung Quốc

Giữa Trung Quốc và Ấn Độ tồn tại rất nhiều vấn đề mang tính kết cấu, vốn đã hạn chế sự hợp tác chiến lược giữa hai nước. Ấn Độ là một nước mạnh trong khu vực, trên thế giới cũng có không ít những nước kiểu này. Làm thế nào để xử lý mối quan hệ với những nước này, trong phân tích về chiến lược ngoại giao của Trung Quốc lại không đề cập nhiều và điều này cần phải được thay đổi.

Đọc tiếp...

Nút thắt đe dọa Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc tại Nam Á

Nút thắt đe dọa Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc tại Nam Á

Các nước Nam Á tham gia dự án Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc (MSR) đã có những quan ngại khác nhau về hậu quả của sự phụ thuộc vào tài chính và chủ quyền đối với Trung Quốc. Tất cả những điều đó cho thấy những thách thức lớn cho các dự án MSR của Trung Quốc tại khu vực này.

Đọc tiếp...

ASEAN-Ấn Độ và chính sách Hành động phía Đông: Để lời nói đi đôi với hành động

ASEAN-Ấn Độ và chính sách Hành động phía Đông: Để lời nói đi đôi với hành động

Dù rất tích cực can dự và hợp tác với khu vực, nhưng có một hố sâu ngăn cách giữa tham vọng và khả năng thực hiện của Ấn Độ. Nếu nghiêm túc về mở rộng ảnh hưởng về phía Đông, Ấn Độ cần thực hiện và hoàn tất nhiều việc hơn nữa.

Đọc tiếp...

Lá bài Đài Loan trong quan hệ Mỹ-Trung

Lá bài Đài Loan trong quan hệ Mỹ-Trung

Hiện nay, với việc thông qua Đạo luật đi lại Đài Loan và xét tới những thay đổi nhân sự gần đây và có thể đang chờ giải quyết trong Chính quyền Trump, có một khả năng rất thực tế là ở một số thời điểm Trump có thể sử dụng lá bài Đài Loan theo cách có nguy cơ gây ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Tại sao thượng đỉnh Trump-Kim khó tạo ra đột phá quan hệ Mỹ-Triều?

Tại sao thượng đỉnh Trump-Kim khó tạo ra đột phá quan hệ Mỹ-Triều?

Triều Tiên và Mỹ vẫn còn khác biệt quá nhiều trong những mục tiêu kỳ vọng, và dù có thỏa thuận nào được lập ra, thì việc xác minh sự phi hạt nhân hóa Triều Tiên và một bản thảo về hiệp ước hòa bình để chính thức kết thúc Chiến tranh Triều Tiên cũng sẽ phải mất vài năm mới có thể hoàn thiện.

Đọc tiếp...

Đạo luật Đài Loan mới của Mỹ có thể dẫn đến chiến tranh Trung-Đài

Đạo luật Đài Loan mới của Mỹ có thể dẫn đến chiến tranh Trung-Đài

Câu hỏi thực sự là ông Tập sẽ có phản ứng như thế nào trong vòng 3-5 năm tới, sau khi đã đánh cược quyền lực hợp pháp của mình vào "việc trẻ hóa đất nước Trung Quốc" thông qua việc sáp nhập Đài Loan, khi ông nhận thấy rằng con đường "thống nhất hòa bình" ngày càng xa.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam tới New Zealand và Úc

Ý nghĩa chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam tới New Zealand và Úc

Việc một số cường quốc châu Á có cách tiếp cận đơn phương đối với một số vấn đề khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đã làm cho các quốc gia liên quan lo lắng. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa các nước Úc, New Zealand, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam được tăng cường là điều hết sức quan trọng.

Đọc tiếp...

Cơ chế 4 bên và tham vọng của ông Tập

Cơ chế 4 bên và tham vọng của ông Tập

Việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, lớn tiếng đe dọa Đài Loan, nhiều lần lấn chiếm biên giới ở dãy Himalaya, xâm nhập thường xuyên Senkaku là những minh chứng thực tế rõ nhất về chính sách ngoại giao và chiến lược của nước này.

Đọc tiếp...

Sự răn đe hạt nhân của Mỹ ở Đông Bắc Á: Những vai trò hạn chế

Sự răn đe hạt nhân của Mỹ ở Đông Bắc Á: Những vai trò hạn chế

Trước những nỗ lực không ngừng của Triều Tiên trở thành một nhà nước sở hữu vũ khí hạt nhân và sự nổi lên của sức mạnh Trung Quốc, cuốn “Nhật Bản, Hàn Quốc và cái ô hạt nhân của Mỹ: sự răn đe sau Chiến tranh Lạnh” đưa ra cho độc giả cái nhìn sâu sắc vô giá về cách thức xem xét vai trò của Mỹ trong việc đối phó với các cuộc đối đầu hạt nhân hiện tại và trong tương lai ở Đông Bắc Á.

Đọc tiếp...

Canh bạc ngoại giao của Nga trên bán đảo Triều Tiên

Canh bạc ngoại giao của Nga trên bán đảo Triều Tiên

Nga đã học được bài học một cách khó nhọc rằng ảnh hưởng đòn bẩy và khả năng bảo vệ các lợi ích của nước này trong vấn đề bán đảo Triều Tiên tương quan với mức độ quan hệ của nước này với Triều Tiên; nếu không, Nga sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và trở thành bên thứ yếu.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ: Hợp tác sức mạnh mềm

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ: Hợp tác sức mạnh mềm

Quan hệ Ấn Độ-Việt Nam không phải mới hình thành gần đây; hai quốc gia có quá khứ lịch sử kéo dài nhiều thiên niên kỷ, và tầm quan trọng của nó chưa bao giờ mất đi trong tiến trình phát triển của thời kỳ hiện đại.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6649 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin