27 - 5 - 2017 | 9:26
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TỌA ĐÀM, HỘI THẢO Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 3 (Hà Nội 11/2011) GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

Email In PDF.

Những tuyên bố và hành động nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đang gây căng thẳng với các nước láng giềng Đông Nam Á. Mỹ, Nhật và Úc cũng thể hiện sự quan ngại đối với an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông. Bài tham luận[1] phân tích những thách thức trên biển này và những hệ lụy đối với hợp tác an ninh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng bao gồm Nhật và Mỹ.

 

GS. Koichi Sato (giữa)

[Không dùng để trích dẫn, tài liệu có bản quyền]

Tháng 3 năm 2010[2], các nhà ngoại giao Trung Quốc đã thông báo với quan chức chính quyền Obama rằng Trung Quốc (Cộng hòa nhân dân - CHND Trung Hoa) sẽ không dung thứ cho bất cứ hành động can thiệp nào tại Biển Đông, nơi mà hiện nay Trung Quốc coi là một phần “lợi ích cốt lõi” thuộc chủ quyền Trung Quốc. Lực lượng Hải quân Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (viết tắt tiếng Anh: PLA, viết tắt tiếng Việt: QĐGPND – chú thích: người dịch) và các cơ quan an ninh hàng hải Trung Quốc đã bắt đầu triển khai tàu chiến và tàu tuần tra tại Biển Đông. Căng thẳng giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng Đông Nam Á đang leo thang. Mỹ, Nhật Bản và Úc cũng thể hiện sự quan ngại đối với an ninh của các tuyến đường thông thương trên biển (viết tắt – tA: SLOC) tại Biển Đông. Cũng có ý kiến cho rằng Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển tàu sân bay. Bài tham luận này sẽ phân tích những thách thức trên biển này và xem xét những hệ lụy đối với hợp tác an ninh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng bao gồm Nhật Bản và Mỹ.

Khái quát về xung đột tại Biển Đông

Biển Đông có bốn nhóm đảo, gồm quần đảo Đông Sa (tiếng Anh: Pratas); quần đảo Hoàng Sa; bãi Trung Sa và quần đảo Trường Sa (xem Hình 1). Đài Loan đã chiếm đóng quần đảo Đông Sa vào năm 1946, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau vụ đụng độ trên biển giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa vào năm 1974. Tất cả đảo đá tại bãi Trung Sa đều là bãi chìm, trừ hai đá thuộc bãi Scarborough do quân đội Phi-lip-pin chiếm đóng.

Trọng tâm chính là các tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa. Theo nhiều nguồn tư liệu của Trung Quốc, diện tích biển quanh quần đảo Trường Sa rộng khoảng 800 nghìn cây số vuông, chiếm khoảng 38% tổng diện tích Biển Đông. Khu vực này bao gồm 230 đảo, đá chìm và đảo nhỏ[3]. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đều đưa ra yêu sách đối tất cả các đảo, đá chìm, đảo nhỏ; trong khi đó Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a và Bru-nây chỉ đưa ra yêu sách với một số đảo và đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa. Bốn bên đưa ra yêu sách, như Bru-nây, Ma-lai-sia, Phi-líp-pin và Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt: ASEAN).

 

Hình 1: Đường đứt đoạn chữ U và các đảo tại Biển Đông

Vùng biển bao quanh quần đảo Trường Sa được đánh giá là giàu có về nguồn lợi dầu mỏ và hải sản. Đó là lý do chính khiến tất cả các bên yêu sách khẳng định quyền chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có bên nào thành công trong việc tìm kiếm dầu mỏ. Các chuyên gia Nhật Bản cũng tỏ ra bi quan đối với việc sản xuất dầu mỏ và khí đốt tại vùng biển bao quanh quần đảo Trường Sa[4]. Đúng là có một số mỏ dầu hoặc mỏ khí đốt tự nhiên đã được tìm thấy tại Biển Đông, nhưng các mỏ này nằm tại những khu vực trũng địa chất thuộc các vùng duyên hải Việt Nam, Sabah và Sarawak của Ma-lai-sia và quần đảo Natuna của In-đô-nê-sia. Không có một mỏ dầu khí nào được tìm thấy quanh quần đảo Trường Sa, bởi quần đảo này nằm ở vùng biển giữa và sâu của Biển Đông.

Về nguồn lợi hải sản tại Biển Đông, bao gồm vùng biển bao quanh quần đảo Trường Sa, các thống kê mới đây cho thấy có khoảng 11,5 tỷ tấn cá được đánh bắt vào năm 2001 (trong đó, Trung Quốc: 3,4 triệu tấn; In-đô-nê-sia: 2,9 triệu tấn; Thái Lan: 1,9 triệu tấn; Việt Nam: 1,5 triệu tấn, Phi-líp-pin: 0,9 triệu tấn, Ma-lai-sia: 0,7 triệu tấn) [5]. Các thông kê cũng cho thấy Trung Quốc đánh bắt 5 triệu tấn hải sản vào năm 1989. Điều đó cho thấy khả năng đánh bắt cá tại Biển Đông đang giảm xuống[6].

Về tình hình chiếm đóng hiện nay tại quần đảo Trường Sa (cụ thể là sự có mặt của quân đội tại đây), Đài Loan đã chiếm đóng vào năm 1947, Phi-lip-pin vào năm 1956, Việt Nam Cộng hòa vào năm 1974 và Trung Quốc vào năm 1988[7]. Chính phủ Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ trên toàn bộ quần đảo Trường Sa vào tháng 8/1951 mặc dù Hải quân Trung Quốc là bên có mặt muộn nhất trong nhóm các bên yêu sách tại quần đảo này. Tàu khu trục Giang Đông (Jiangdong) của Hải quân Trung Quốc đã tấn công các tàu chở lính của Việt Nam tại vùng biển quanh bãi Gạc Ma của quần đảo Trường Sa vào tháng 3/1988, làm chìm hai tàu của Việt Nam và làm hư hại một tàu khác[8].

Hải quân Trung Quốc đã dựng cột mốc lãnh thổ tại Đá Gaven vào tháng 7/1992 và Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN đã thể hiện sự quan ngại của họ tuy nhiên họ không nhắc đến Trung Quốc trong Tuyên bố về Biển Đông[9]. Hải quân Trung Quốc cũng xây dựng một số đồn bốt quân sự cho lính đóng quân trên bãi đá ngầm Vành Khăn mà cả Việt Nam và Phi-líp-pin cũng yêu sách chủ quyền, vào tháng 2/1995 và sau đó họ đã mở rộng những cơ sở này vào tháng 10/1998[10]. Bộ trưởng ngoại giao của các nước ASEAN đã công bố Tuyên bố về bãi Vành Khăn vào tháng 3/1995[11],. Các quốc gia ASEAN đã không hài lòng với Trung Quốc vì sự thống trị quân sự của nước này ở Biển Đông. Kể từ đó, các quốc gia ASEAN sử dụng ngoại giao hội nghị[12] để giải quyết xung đột Biển Đông một cách hòa bình.

Các nhà lãnh đạo ASEAN bắt đầu tìm kiếm các cách thức giải quyết hòa bình cho xung đột Biển Đông tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF - diễn đàn này bắt đầu từ năm 1994) và tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc (khởi động từ năm 1997). Họ đã lên kế hoạch cho Bộ quy tắc ứng xử khu vực tại Biển Đông (viết tắt – COC) để ngăn chặn các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông[13]. Các nước ASEAN đã đàm phán với Trung Quốc trong nhiều năm và cuối cùng các bên cũng đi tới ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (viết tắt: DOC) tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc vào ngày 4/11/2002[14].

 Về tình hình chiếm đóng các đảo, đá tại quần đảo Trường Sa, một học giả người Phi –líp-pin cho biết “Trung Quốc chiếm 7, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam 21, Ma-lai-si-a chiếm 5 và Phi-líp-pin chiếm 9, tổng cộng là 43 đảo bị chiếm đóng”. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc khẳng định Việt Nam đang chiếm 29 đảo, đá. Một học giả người Trung Quốc cho biết “Trung Quốc chiếm 6 đảo, đá” [15]. Trung Quốc đã vạch ra đường đứt đoạn hình chữ U tại Biển Đông (xem hình 1), và giới ngoại giao Trung Quốc gọi đường chữ U đứt đoạn là ranh giới của các vùng nước lịch sử của Trung Quốc một cách mơ hồ. Ngoài ra, luật lãnh hải của Trung Quốc đã đưa ra yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ các đảo tại Biển Đông, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa[16].

Yêu sách của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa rất yếu vì nó không xuất phát từ yếu tố cư trú lịch sử của người dân Trung Quốc. Yêu sách của bốn nước ASEAN cũng thiếu tính thuyết phục với cùng một lý do. Một học giả Nhật Bản có uy tín nhận định rằng không có bên yêu sách nào có thể đưa ra bằng chứng rõ ràng về việc chiếm cứ hữu hiệu tại quần đảo Trường Sa vào giai đoạn lịch sử cận đại. Mỗi bên đưa ra yêu sách đều có quyền tham gia vào đàm phán giải quyết vấn đề lãnh thổ[17].

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Giáo sư. Koichi Sato, College of Liberal Arts, Đại học J. F. Oberlin, Tô-ky-ô, Nhật Bản

 

Bản gốc tiếng Anh: “South China Sea: China’s Rise and Implications for Security Cooperation”

Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.

 [1] Một số phần trong bài tham luận này được đăng trên bài viết của chính tác giả, Koichi Sato, “China’s ‘Frontiers’: Issues Concerning Territorial Claims at Sea - Security Implications in the East China Sea and the South China Sea-”, đây là bài tham luận được trình bày tại chương trình Global COE của Trung tâm nghiên cứu Sla-vơ, Đại học Hokkaido ( http://src-h.slav.hokudai.ac.jp/ ). Tác giả muốn dành những lời cám ơn đặc biệt tới Trung tâm nghiên cứu Sla-vơ vì đã hỗ trợ tác giả trong việc nghiên cứu các vấn đề biên giới biển. Những quan điểm trong tham luận này chỉ mang tính chất cá nhân, không đại diện cho bất cứ tổ chức nào.

 

[2] New York Times, 23 tháng 4 năm 2010. “Lợi ích cốt lõi của Trung Quốc” trong vấn đề lãnh thổ bao gồm Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương.

[3] Ji Guoxing, The Spratlys Disputes and Prospects for Settlement, Institute of Strategic and International Studies (ISIS) Malaysia, 1992, tr. 1.

[4] Akira Ishi và Kazuhiko Fuji, Sekai Wo Ugokasu Sekiyu Senryaku [Chiến lược dầu mỏ thế giới], Chikuma Publishing, 2003, tr. 136-140. Bộ Tài nguyên Đất đai của Trung Quốc đã tuyên bố một cách lạc quan rằng Biển Đông có thể có khoảng 23-40 tỷ tấn dầu mỏ (tương đương với 168 – 220 tỷ thùng dầu) và hơn 2000 nghìn tỷ khối (tcf) khí đốt tự nhiên. Tuy nhiên, một cuộc thăm dò địa chấn của Mỹ vào năm 1993/4 cho rằng chỉ có 28 tỷ thùng dầu, Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho rằng chỉ có khoảng 7 tỷ thùng dầu. Theo nguồn của Ralf Emmers, Geopolitics and Maritime Territorial Disputes in the South China Sea: From Competition to Collaboration? Joshua Ho, ed., Realising Safe and Secure Seas for All, Select Publishing, 2009, tr. 147.

[5] Guo Wenlu and Huang Shuolin, Nanhai Zhengduan Yu Nanhai Yuye Ziyuan Quyu Hezuo Guanli Yanjiu [Nghiên cứu xung đột biển Đông và Quản lý hợp tác các nguồn thủy sản ở biển Đông], Haijun Chubanshe, Beijing, 2007, tr. 91-104.

[6] Shigeo Hiramatsu, Chugoku No kaiyo Senryaku [Chiến lược hải quân Trung Quốc], Keiso Shobo Publishing, 1993, tr. 27.

[7] Tatsuo Urano, Nankai Shoto Kokusai Funso Shi [Lịch sử các cuộc xung đột quốc tế về các đảo ở biển Đông], Tosui Shobo Publishing, 1997, Tokyo, tr. 1106-1175.

[8] Jane’s Defence Weekly, 28 tháng 5 năm 1988, tr. 1072, Shao Yonglin, Haiyang Zhanguoce [Chiến lược chiến tranh hải quân của Trung Quốc], Shiyou Gongyue Chubanshe, 2010, tr. 165. Shao Yonglin là giáo sư tại Học Viện Pháo binh thứ hai và là Đại tá của PLA.

[9] New Straits Times, 10 tháng 7 năm 1992, Tuyên bố về Biển Đông, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN, Manila, 22 tháng 7 năm 1992.

[10] Far Eastern Economic Review, 23 February 1995, pp. 14-16, Straits Times, 11 November 1998.

[11] Tuyên bố của Bộ trưởng các nước ASEAN về tình hình mới tại Biển Đông, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN, Singapore, 18 tháng 3 năm 1995.

[12] Bộ trưởng các nước ASEAN gọi nguyên tắc hội nghị của họ là “phương cách ASEAN”, mặc dù nguyên tắc của các phiên họp như vậy còn rất mơ hồ. Chính vì thế, tác giả chia “phương cách ASEAN” trong ngoại giao hội nghị thành một bộ nguyên tắc gồm 6 đặc điểm. Thứ nhất, quá trình hoạch định chính sách dựa trên đồng thuận; thứ hai, việc duy trì đối thoại được đặt ưu tiên hơn so với giải quyết xung đột thông qua những người tham dự hội nghị; thứ ba, ASEAN cũng tiến hành đàm phán tập thể với các đối tác đối thoại bên ngoài; thứ tư, ASEAN tiến hành các hội nghị tùy theo thay đổi của môi trường quốc tế; thứ năm, ASEAN giữ toàn bộ hoặc một phần quyền tài trợ và chủ trì các cuộc họp; thứ sáu, ASEAN tiến hành các hội nghị không chính thức, bao gồm các cuộc họp trù bị cấp Bộ trưởng. Sáu thành tố của ngoại giao hội nghị kiểu ASEAN tạo thành gói quy tắc mà tác giả gọi là “Cơ chế ASEAN”. Xem Koichi Sato, “The ASEAN Regime: Its Implications for East Asian Cooperation – A Japanese View,” Tamio Nakamura ed., The Dynamics of East Asian Regionalism in Comparative Perspective, Institute of Social Science, University of Tokyo, 2007, tr. 19-30.

[13] Straits Times, 21/7/1999.

[14] Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại Biển Đông, Phnom Penh, 4/11/2002.

[15] Rommel C. Banlaoi, Renewed Tensions and Continuing Maritime Security Dilemma in the South China Sea: A Philippine Perspective, Tran Truong Thuy ed., The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development, Diplomatic Academy of Vietnam, 2010, tr. 148, Shao, sđd., tr. 202, Li Guojiang, Zhongguo Chugoku To Shuuhen Kokka No Kaijou Kokkyo Mondai [Vấn đề biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng], Kyokai Kenkyu [Nhìn lại Biên giới Nhật Bản], No. 1, Trung tâm nghiên cứu Sla-vơ, Đại học Hokkaido, tr. 50.

[16] Far Eastern Economic Review, 27 April 1995, p. 28, People’s Daily, 26/02/1992.

[17] Hidekuni Takeshita, Minami Shina Kai Funso No keii To Ryouyuuken Mondai [Lịch sử xung đột biển Đông và các vấn đề lãnh thổ], tập 2, Ajiatorendo, 1992, IV, tr. 91.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Bài viết phân tích việc Trung Quốc và Việt Nam đối phó với những căng thẳng liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông. Tác giả tập trung vào những sự kiện gây căng thẳng gần đây trong cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 2011. Những diễn biến được phân tích trong bối cảnh rộng hơn về cách tiếp cận Việt Nam – Trung Quốc đối với quản lý tranh chấp biên giới lãnh thổ.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Việc đạt được một sự đồng thuận mạnh mẽ về tranh chấp Biển Đông trong ASEAN đã và đang là một thách thức với tổ chức này trong hai thập niên trở lại đây, nguyên nhân là do những khác biệt về lợi ích quốc gia của các quốc gia thành viên. Bài viết xem xét cách thức ASEAN – với tư cách là một khối-đương đầu với căng thẳng đang tăng lên ra sao; mức độ đồng thuận mà các nước đã và đang gầy dựng; cũng như thực tế chính trị của những hạn chế trong sự đồng thuận. Bài tham luận sẽ tập trung vào Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) và tiến trình đạt được Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (CoC); cũng như phản ứng của ASEAn đối với đề xuất thành lập ZoPFFC[1] của Phi-líp-pin.

Đọc tiếp...

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Bài viết nêu lên những mặt tích cực trong cách tiếp cận vấn đề Biển Đông qua kênh 2 thông qua các hội thảo, dự án hợp tác khoa học…Một số bài học kinh nghiệm mà tác giả rút ra thông qua 20 năm quản lý tiến trình Hội thảo về Biển Đông (SCSW) có thể được cân nhắc, xem xét áp dụng như một giải pháp tăng cường hợp tác, ngăn ngừa xung đột tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

Bài viết bàn về cuộc tranh cãi pháp lý giữa hai quan điểm giữa một bên là quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc và một bên là những người theo quan điểm hiện đại về việc là Philippin có nên từ bỏ toàn bộ “các đường hiệp ước” năm 1898 và áp dụng các quy tắc hiện đại về Luật biển hay không . Quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc bám chặt yêu sách mở rộng đối với các vùng biển được nêu ra trong Hoà ước năm 1898, theo đó đế quốc thực dân Tây Ban Nha khi xưa đã nhượng lại quần đảo Philippines cho Hoa Kỳ. Quan điểm của những người theo chủ nghĩa hiện đại sẽ tuân theo các vùng biển xác định nhưng được chấp nhận rộng rãi theo quy định trong Công ước về Luật biển. Bài viết cũng  lý giải vì sao Philippin vẫn  tiếp tục duy trì quan điểm chủ nghĩa dân tộc và giải thích vì sao lập luận theo chủ nghĩa hiện đại lại không thể áp đảo Đọc tiếp...

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

Bài viết tập trung vào vấn đề áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với các quần đảo giữa biển, đó là những quần đảo thuộc về một quốc gia mà với bất kỳ lý do nào đó không thể được xem như là quốc gia quần đảo theo Luật biển Quốc tế 1982. Bài viết cũng sẽ xem xét đến những lập luận mang tính pháp lý về  khả năng vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh các quần  đảo xa bờ theo luật quốc tế tại Biển Đông Đọc tiếp...

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Chủ trương của bài viết[1] này là thành lập một mạng lưới song phương bảo tồn biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ở khu vực Tây Bắc của Biển Đông, như một giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm mà Trung Quốc đang thực hiện tại Biển Đông. Một giải pháp như vậy nếu như chính thức được thực hiện, nó không chỉ giúp bảo tồn nguồn sinh vật biển, mà còn đóng góp vào việc thúc đẩy mối quan hệ song phương Việt Nam và Trung Quốc, cũng như giúp giảm căng thẳng khu vực này.

Đọc tiếp...

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

Trên cơ sở đề xuất của Philippin về việc thành lập một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác ở Biển Đông, bài viết phân tích về những khả năng cho đề xuất này, mà cụ thể là  tập trung vào việc xác định những khu vực có tranh chấp và không có tranh chấp. Bài viết cũng sẽ phân tích các nghĩa vụ theo luật quốc tế của các Quốc gia yêu sách liên quan đến các khu vực tranh chấp, trong đó bao gồm những hạn chế theo luật quốc tế đối với những hành động đơn phương mà Quốc gia được phép thực hiện trong các khu vực tranh chấp. Đọc tiếp...

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

Sự tác động qua lại giữa sức mạnh và luật pháp ở biển Đông chưa được hiểu một cách đúng đắn. Để phân tích các tranh chấp đối với các vấn đề về quyền hàng hải, chủ quyền đối với các hòn đảo và sự phân định ranh giới của các khu vực biển, chúng ta cần hiểu cách các nước định nghĩa và bảo vệ lợi ích địa chính trị của mình cũng như những cách thức mà luật pháp quốc tế ảnh hưởng đến các yêu sách và hành vi xung đột của họ. Đọc tiếp...

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

Trước sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông, tác giả cho rằng hợp tác là một trong các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp. Nhằm thúc đẩy hợp tác tại khu vực Biển Đông, tác giả đề xuất có thể bắt đầu bằng việc bảo tồn và quản lý tài nguyên cá và cần phải được thực hiện theo một cơ chế thống nhất ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả. Bài viết này đưa ra kết luận về sự cần thiết của tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMO) trong việc bảo tồn và quản lý các tài nguyên nghề cá trên Biển Đông. Hơn nữa, mô hình này có thể góp phần giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Đọc tiếp...

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

Bài viết phân tích những diến biến tranh chấp chủ quyền, vấn đề khai thác dầu khí tại Biển Đông – một nhân tố quan trọng khi mà nhu cầu về năng lượng toàn cầu ngày càng tăng, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Biển Đông đang được gắn với các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc khi nước này tăng cường phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ tuyến đường biển kéo dài đến Trung Đông. Nó cũng trở thành vấn đề đối với sự hiện diện của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ đồng minh của nước này trong khu vực. Tác giả cho rằng điều cần thiết trong giai đoạn này là một thỏa thuận đa phương về các biện pháp để ngăn chặn việc các vấn đề nhỏ leo thang thành xung đột trong khi chưa có cách giải quyết đối với tranh chấp trong các yêu sách. Thỏa thuận này cần phải có hai nhân vật chính là Mỹ và Trung Quốc, cũng như các quốc gia yêu sách thuộc khối ASEAN. Đọc tiếp...

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Nhiều người cho rằng sự quả quyết của Trung Quốc tại Biển Đông là dựa trên những lý do kinh tế và môi trường. Nhưng đấy chỉ là những lý do bề mặt. Biển Đông không khác gì một quân cờ trong kế hoạch phòng thủ tổng thể mà Trung Quốc đang xây dựng nhằm hạn chế cái được cho là mối đe dọa Mỹ.

Đọc tiếp...

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

Bài nghiên cứu hướng đến tìm hiểu những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Trong bài viết tác giả liệt kê những vấn đề liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề trên biển và đại dương đã được thảo luận, những đề xuất để mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương. Cơ sở dữ liệu của công trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ thống thư viện công cộng ở Hoa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và các tờ báo lớn. Đọc tiếp...

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

Biển Đông là nơi hội tụ của nhiều mối quan tâm về an ninh trên biển. Dưới góc độ an ninh truyền thống, những xung đột về yêu sách lãnh thổ và vùng biển ngày càng gay gắt khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tại khu vực biển Đông. Tất cả những triển vọng này đặt an ninh của khu vực biển Đông ở mức báo động cao. Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc là một khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằm giúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng và bền vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, giúp các bên xác định và thu hẹp đối tượng của tranh chấp chủ quyền, thiết lập cơ chế hợp tác về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đặc biệt là nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển nửa kín. Nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của Công ước vào bối cảnh đặc thù của biển Đông, các quốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luật ứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực. Đọc tiếp...

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

Là biển nửa kín, theo , Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc quy định rằng các quốc gia ven bờ “nên hợp tác với nhau để thực thi các quyền và nghĩa vụ của họ theo Công ước”. Cụ thể hơn, Công ước hướng dẫn các nước phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn lợi sinh vật của biển” và phối hợp các hoạt động của họ liên quan đến việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Mặc dù vậy, theo GS. Jon M. Van Dyke[1] các nước ven bờ Biển Đông đã không xây dựng được một tổ chức khu vực hiệu quả nào và hợp tác trực tiếp về cơ bản cũng không thành công. Đọc tiếp...

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

Những yêu sách đối kháng, tầm quan trọng cả về chiến lược và kinh tế, đặc biệt là những động thái và quan điểm của Trung Quốc gần đây trong tranh chấp biên giới cả trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng đã khiến cho tình hình Biển Đông  trở nên căng thẳng, thậm chí theo  các chuyên gia ẩn chứa rủi ro xung đột vũ trang. Tuy nhiên, theo tác giả một số các tiến triển có tính tích cực cũng đã diễn ra, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số giải pháp thực tiễn giải quyết vấn đề

Đọc tiếp...

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử b) áp dụng cách tiếp cận song phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ta một sự chia rẽ giữa ASEAN và Mỹ; và d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo cách của mình. Với cách tiếp cận chính trị thực tiễn mà Trung Quốc sử dụng trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.

Đọc tiếp...

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

Những tuyên bố và hành động nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đang gây căng thẳng với các nước láng giềng Đông Nam Á. Mỹ, Nhật và Úc cũng thể hiện sự quan ngại đối với an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông. Bài tham luận[1] phân tích những thách thức trên biển này và những hệ lụy đối với hợp tác an ninh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng bao gồm Nhật và Mỹ.

Đọc tiếp...

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Căng thẳng đang leo thang xung quanh những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ASEAN, được cho là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Bài viết này phân tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh chấp. Đọc tiếp...

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

Thời gian gấn đây, Biển Đông luôn trong tâm điểm của dư luận quốc tế bởi những hành động, tuyên bố của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền tại Biển Đông. Đáng lưu ý là việc nước này cảnh báo sự can dự của các quốc gia không liên quan bên ngoài. Tất cả những yếu tố gây bất ổn đó cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Ấn Độ trên khía cạnh thương mại hảng hải, khai thác dầu khí. New Delhi cũng gia tăng quan ngại về tuyên bố “ những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc vì rất có thể điều này cũng sẽ mở rộng áp dụng đối với những khu vực tranh chấp biên giới phía bắc của Ấn Độ. Đọc tiếp...

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

Những diến biến tại Biển Đông gần đây cho thấy một điều gần như chắc chắn rằng hồ sơ vấn đề Biển Đông sẽ ngày một quan trọng đối với các cường quốc châu Á  - Thái Bình Dương. Từ những đánh giá về những nỗ lực của ASEAN nhằm giải quyết vấn đề, bài viết đưa ra những lựa chọn trong chính sách của Nga đối với Biển Đông một cách phù hợp nhằm giảm căng thẳng vấn đề tranh chấp tại đây.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 9616 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin