25 - 4 - 2017 | 0:12
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home TỌA ĐÀM, HỘI THẢO Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 3 (Hà Nội 11/2011) Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Email In PDF.

Việc đạt được một sự đồng thuận mạnh mẽ về tranh chấp Biển Đông trong ASEAN đã và đang là một thách thức với tổ chức này trong hai thập niên trở lại đây, nguyên nhân là do những khác biệt về lợi ích quốc gia của các quốc gia thành viên. Bài viết xem xét cách thức ASEAN – với tư cách là một khối-đương đầu với căng thẳng đang tăng lên ra sao; mức độ đồng thuận mà các nước đã và đang gầy dựng; cũng như thực tế chính trị của những hạn chế trong sự đồng thuận. Bài tham luận sẽ tập trung vào Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) và tiến trình đạt được Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (CoC); cũng như phản ứng của ASEAn đối với đề xuất thành lập ZoPFFC[1] của Phi-líp-pin.

 

 

(Tham luận giới thiệu tại Hội thảo quốc tế lần thứ Ba “Biển Đông : Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực” – Hà Nội, Việt Nam, 3-5/11/2011)

 

Ngoài sự không khoan nhượng từ phía Trung Quốc, việc quản lý xung đột và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông đang bị chính những vấn đề trong nội khối ASEAN cản trở, và đặc biệt là vấn đề đồng thuận. Do Biển Đông đóng vai trò sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế và an ninh lương thực với Đông Nam Á, các quốc gia thành viên ASEAN cũng có lợi ích không thể chối cãi đối với vấn đề ổn định và giải quyết tranh chấp biển một cách hòa bình. Nhưng ASEAN không ủng hộ các yêu sách của bốn quốc gia thành viên của mình cũng như không đưa ra một lập trường nào về tính hợp lý của yêu sách do Trung Quốc đưa ra. Trong khi Việt Nam và Phi – líp- pin đang ủng hộ một Bộ Quy tắc ứng xử cho Biển Đông, thì Trung Quốc tỏ ra miễn cưỡng với việc theo đuổi một Bộ Quy tắc như vậy. Đây chính là trở ngại lớn. Đề xuất của Phi-líp-pin về việc đưa Biển Đông trở thành một khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (ZoPFFC) cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi do sự phản đối từ Bắc Kinh, và cùng bởi đề xuất đó đòi hỏi ASEAN phải tỏ rõ thái độ đối với yêu sách bành trướng của Trung Quốc. Nói tóm lại, triển vọng hiện thực hóa COC và ZoPFFC là không sáng lạn mấy.

Căng thẳng leo thang xoay quanh các tranh chấp biên giới lãnh thổ và biên giới biển tại Biển Đông những năm vừa qua đã đưa vấn đề này vào trong danh sách hàng đầu của chương trình nghị sự an ninh châu Á. Vấn đề này đã hạ bệ nhiều “điểm nóng” khu vực khác như tình hình đối đầu ở bán đảo Triều Tiên, quan hệ Trung Quốc – Đài Loan và căng thẳng giữa Ấn Độ và Pa-kít-xtan, mặc dù thực tế căng thẳng tại ba khu vực trên đều có khả năng gây ra sự tổn thất lớn lao về con người, dẫn đến nguy cơ sử dụng vũ khí hạt nhân và việc các cường quốc, trong đó có Mỹ, can thiệp vũ trang vào khu vực. Ngược lại, sự đối đầu tại biển Đông dường như không kéo theo những nguy cơ nêu trên vào thời điểm này. Vài cuộc đụng độ hải quân quy mô nhỏ, hoặc vô tình hoặc hữu ý, có khả năng xảy ra, nhưng những đụng độ đó không dẫn đến những thương vong quy mô lớn.

Tuy nhiên, do vai trò quan trọng về mặt kinh tế và chiến lược của Biển Đông, việc quản lý kém xung đột này có thể gây ra nguy cơ cao đối với các quốc gia yêu sách và các quốc gia không đưa ra yêu sách. Các tuyến hàng hải (SLOCS) đóng vai trò là đường giao thông huyết mạch đối với thương mại toàn cầu; và trong khi căng thẳng vẫn chưa ngăn cản việc lưu thông tự do của thương mại đường biển – và có thể sẽ không bao giờ như vậy – việc đảm bảo an toàn cho các tuyến đường biển trở thành mối quan tâm của các nước, đặc biệt trong thời kỳ bất ổn kinh tế. Việc tiếp cận với các nguồn tài nguyên biển (như nguồn cá, dầu mỏ thô, khí đốt tự nhiên và khoáng sản đáy biển) vẫn là nhân tố quan trọng trong cuộc tranh chấp. Nhu cầu an ninh năng lượng càng ngày càng trở thành nhân tố nổi bật trong thời kỳ nhu cầu tài nguyên ngày càng gia tăng cùng với tình trạng tài nguyên khan hiếm. Giọng điệu mang đậm tính chất chủ nghĩa dân tộc về quyền đòi lại lãnh thổ ngày càng nặng nề và căng thẳng, đặc biệt là ở Việt Nam và Trung Quốc, khiến cho việc đạt được thỏa hiệp ngày càng trở nên khó khăn. Và điều quan trọng nhất, tranh chấp biển Đông cũng đã được xếp vào cuộc cạnh tranh địa chiến lược giữa CHND Trung Hoa và Mỹ. Tình hình cạnh tranh này, nếu tiếp tục, sẽ đẩy các quốc gia ven biển đến những lựa chọn khó khăn.

Một loạt các bài bình luận về tranh chấp Biển Đông đã xuất hiện từ nhiều năm nay, chủ yếu các bài viết đều tập trung viết về Trung Quốc: tiềm năng quân sự ngày càng gia tăng; những nguyên nhân khiến Trung Quốc hành xử ngày càng quyết đoán, thậm chí có những hành vi hiếu chiến; tác động của chính trị nội bộ; và tác động của tranh chấp tới quan hệ Trung Quốc – Mỹ[2]. Có rất ít các bài viết tập trung vào những vận động trong nội khối ASEAN. Mục tiêu của bài tham luận này là xem xét cách thức ASEAN – với tư cách là một khối-đương đầu với căng thẳng đang tăng lên ra sao; mức độ đồng thuận mà các nước đã và đang gầy dựng; cũng như thực tế chính trị của những hạn chế trong sự đồng thuận. Bài tham luận sẽ tập trung vào Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) và tiến trình đạt được Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (CoC); cũng như phản ứng của ASEAn đối với đề xuất thành lập ZoPFFC của Phi-líp-pin.

Đồng thuận ASEAN và tranh chấp biển Đông

Tranh chấp Biển Đông đã được đẩy lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự ASEAN kể từ đầu năm 1990. Cho đến thời điểm đó, tổ chức ASEAN vẫn chỉ tập trung vào việc giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, cuộc khủng hoảng 10 năm kể từ sự kiện Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia vào năm 1978. Trong khi sáu quốc gia thành viên (Bru-nây, Ma-lai-sia, Phi-líp-pin, In-đô-nê-sia, Xinh-ga-po và Thái lan) đạt được đồng thuận đối với việc cần thiết buộc Việt Nam rút quân, giữa các nước này vẫn có sự chia rẽ rõ rệt về mục tiêu cần đạt được, và đặc biệt là trong quan điểm về vai trò của Trung Quốc[3]. Mặc dù có sự khác biệt về lập trường trong ASEAN, các quốc gia thành viên vẫn có thể tập trung vào mục tiêu cốt lõi là Việt Nam rút quân khỏi Cam-pu-chia và giải quyết một cách hòa bình vấn đề này. Đồng thuận được duy trì và tổ chức đã đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khủng hoảng Cam-pu-chia.

Việc đạt được một sự đồng thuận mạnh mẽ về tranh chấp Biển Đông trong ASEAN đã và đang là một thách thức với tổ chức này trong hai thập niên trở lại đây, nguyên nhân là do những khác biệt về lợi ích quốc gia của các quốc gia thành viên. Đây là vấn đề nảy sinh phức tạp từ việc mở rộng số lượng thành viên từ sáu lên mười quốc gia trong giai đoạn 1997 – 1999. Bốn thành viên – Bru-nây, Ma-lai-sia, Phi-líp-pin và Việt Nam – không chỉ có yêu sách lãnh thổ chồng lấn với CHND Trung Hoa, mà có cả yêu sách chồng lần lẫn nhau. Tuy nhiên, dường như Ma-lai-sia và Bru-nây đã giải quyết yêu sách chồng lấn của họ tại quần đảo Trường Sa. Trong thư trao đổi năm 2009, Ma-lai-sia đã công nhận vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) mà Bru-nây yêu sách và quyền chủ quyền mở rộng của nước này trong vùng đó, bao gồm quyền chủ quyền đối với đá Louisa – một thực thể nửa nổi nửa chìm[4]. In-đô-nê-sia cũng là một bên tranh chấp vì vùng ĐQKT 200 hải lý tính từ đảo Natuna chồng lấn với đường 9 đoạn của Trung Quốc – đường này chiếm gần 80% biển Đông. Xinh-ga-po không phải là một bên yêu sách, nhưng với tư cách là một quốc đảo phụ thuộc vào dòng thương mại tự do bằng đường biển đối với sự thịnh vượng và sự phát triển trong tương lai, nước này đã nhiều lần thể hiện sự quan ngại đối với nguy cơ tranh chấp gây ra bất ổn khu vực. Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Thái Lan không phải bên yêu sách và bản thân các quốc gia này không thấy bị ảnh hưởng trực tiếp từ tranh chấp này. Các nước này, tùy mức độ, cũng có quan hệ kinh tế, chính trị và an ninh chặt chẽ với CHND Trung Hoa và họ không muốn làm tổn hại mối quan hệ này khi ủng hộ các sáng kiến về biển Đông mà có thể phía Trung Quốc coi là phương hại đến lợi ích của nước này. Chẳng hạn, vào tháng 7/2010, tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tổ chức tại Hà Nội, 12 quốc gia đã bày tỏ quan ngại của họ về diễn biến mới tại Biển Đông: trong số thành viên ASEAN, chỉ có Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Thái Lan vẫn lựa chọn cách im lặng về vấn đề này.

Như Đại sứ Tommy Koh đã viết, ASEAN không thể hiện bất cứ lập trường gì về yêu sách của Bru-nây, Ma-lai-sia, Phi-líp-pin và Việt Nam tại biển Đông[5] . Dĩ nhiên, không thể có một lập trường như vậy, vì quá trình hoạch định chính sách của ASEAN dựa vào đồng thuận và vì có bốn quốc gia có yêu sách chồng lấn tại quần đảo Trường Sa. Hơn nữa, như ngài Koh phân tích, “ASEAN cũng không có lập trường gì về tình hình tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc và một số quốc gia yêu sách trong ASEAN. Bởi thế, bất cứ quan điểm nào cho rằng yêu sách của Bru-nây, Ma-lai-sia, Phi-líp-pin và Việt Nam được ASEAN ủng hộ là không chính xác.” Dĩ nhiên, các thành viên ASEAN cũng có những lợi ích tập thể quan trọng tại biển Đông, dù họ là bên yêu sách hay không phải bên đưa ra yêu sách. Vì các tuyến thông thương hàng hải (SLOC) không chỉ đóng vai trò sống còn đối với nền kinh tế thế giới, mà còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của tất cả thành viên ASEAN. Nguồn hải sản dồi dào của biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh lương thực của hàng trăm triệu người dân trong khu vực. Tất cả các thành viên ASEAN mong muốn củng cố quan hệ tốt đẹp với ASEAN và mong muốn thấy được mối quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ. Tóm lại, dù ASEAN không đưa ra lập trường về các yêu sách khác nhau, tổ chức này vẫn cam kết hướng đến sự ổn định tại biển Đông và muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình – điều này tạo cơ sở cho sự đồng thuận của ASEAN. 

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

TS. Ian Storey, Nghiên cứu viên cao cấp, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Xinh-ga-po

Bản gốc tiếng Anh: “Intra-ASEAN Dynamics and the South China Sea Dispute: Implications for the DoC/CoC Process and ZoPFFC Proposal

Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba:Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/11/2011.



[1] Ghi chú của người dịch: ZoPFFC là viết tắt tiếng Anh của Sáng kiến về khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác.

[2] Xem “The South China Sea Dispute” a special issue of Contemporary Southeast Asia 33, No. 3 (Tháng 12/ 2011).

[3] Xem Chương Một trong bài Ian Storey, Southeast Asia and the Rise of China: The Search for Security (Abingdon, Oxford: Routledge, 2011).

[4] Ian Storey, “Brunei and China” in Bruce Elleman, Stephen Kotkin and Clive Schofield (eds.), China and its Borders: Twenty neighbors in Asia (New York: M.E. Sharpe, forthcoming 2011)

[5] Tommy Koh, “Mapping out rival claims in the South China Sea”, Straits Times, 13/9/2011.

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Ramses Amer, Việt Nam, Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông: Đánh giá tác động của các sự kiện tháng 5-6 năm 2011

Bài viết phân tích việc Trung Quốc và Việt Nam đối phó với những căng thẳng liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông. Tác giả tập trung vào những sự kiện gây căng thẳng gần đây trong cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 2011. Những diễn biến được phân tích trong bối cảnh rộng hơn về cách tiếp cận Việt Nam – Trung Quốc đối với quản lý tranh chấp biên giới lãnh thổ.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Ian Storey, Những vận động trong nội khối ASEAN và tranh chấp biển Đông: tác động tới tiến trình DOC/COC và Đề xuất ZoPFFC

Việc đạt được một sự đồng thuận mạnh mẽ về tranh chấp Biển Đông trong ASEAN đã và đang là một thách thức với tổ chức này trong hai thập niên trở lại đây, nguyên nhân là do những khác biệt về lợi ích quốc gia của các quốc gia thành viên. Bài viết xem xét cách thức ASEAN – với tư cách là một khối-đương đầu với căng thẳng đang tăng lên ra sao; mức độ đồng thuận mà các nước đã và đang gầy dựng; cũng như thực tế chính trị của những hạn chế trong sự đồng thuận. Bài tham luận sẽ tập trung vào Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) và tiến trình đạt được Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (CoC); cũng như phản ứng của ASEAn đối với đề xuất thành lập ZoPFFC[1] của Phi-líp-pin.

Đọc tiếp...

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Hasjim Djalal, Biển Đông: Hợp Tác vì An ninh và Phát triển Khu vực

Bài viết nêu lên những mặt tích cực trong cách tiếp cận vấn đề Biển Đông qua kênh 2 thông qua các hội thảo, dự án hợp tác khoa học…Một số bài học kinh nghiệm mà tác giả rút ra thông qua 20 năm quản lý tiến trình Hội thảo về Biển Đông (SCSW) có thể được cân nhắc, xem xét áp dụng như một giải pháp tăng cường hợp tác, ngăn ngừa xung đột tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

GS. Raul C. Pangalangan, Những phát triển gần đây trong Luật đường cơ sở của Philippines

Bài viết bàn về cuộc tranh cãi pháp lý giữa hai quan điểm giữa một bên là quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc và một bên là những người theo quan điểm hiện đại về việc là Philippin có nên từ bỏ toàn bộ “các đường hiệp ước” năm 1898 và áp dụng các quy tắc hiện đại về Luật biển hay không . Quan điểm của những người theo chủ nghĩa dân tộc bám chặt yêu sách mở rộng đối với các vùng biển được nêu ra trong Hoà ước năm 1898, theo đó đế quốc thực dân Tây Ban Nha khi xưa đã nhượng lại quần đảo Philippines cho Hoa Kỳ. Quan điểm của những người theo chủ nghĩa hiện đại sẽ tuân theo các vùng biển xác định nhưng được chấp nhận rộng rãi theo quy định trong Công ước về Luật biển. Bài viết cũng  lý giải vì sao Philippin vẫn  tiếp tục duy trì quan điểm chủ nghĩa dân tộc và giải thích vì sao lập luận theo chủ nghĩa hiện đại lại không thể áp đảo Đọc tiếp...

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

GS. Erik Franckx và Marco Benatar, Đường cơ sở thẳng bao quanh các đảo không cấu thành một quốc gia quần đảo

Bài viết tập trung vào vấn đề áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với các quần đảo giữa biển, đó là những quần đảo thuộc về một quốc gia mà với bất kỳ lý do nào đó không thể được xem như là quốc gia quần đảo theo Luật biển Quốc tế 1982. Bài viết cũng sẽ xem xét đến những lập luận mang tính pháp lý về  khả năng vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh các quần  đảo xa bờ theo luật quốc tế tại Biển Đông Đọc tiếp...

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Mạng lưới song phương các khu bảo tồn giữa Việt Nam và Trung Quốc: Giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên Biển Đông

Chủ trương của bài viết[1] này là thành lập một mạng lưới song phương bảo tồn biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ở khu vực Tây Bắc của Biển Đông, như một giải pháp thay thế cho lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm mà Trung Quốc đang thực hiện tại Biển Đông. Một giải pháp như vậy nếu như chính thức được thực hiện, nó không chỉ giúp bảo tồn nguồn sinh vật biển, mà còn đóng góp vào việc thúc đẩy mối quan hệ song phương Việt Nam và Trung Quốc, cũng như giúp giảm căng thẳng khu vực này.

Đọc tiếp...

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

GS. Robert C Beckman và Leonardo Bernard, Các Khu vực Tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc Ý kiến Tư vấn

Trên cơ sở đề xuất của Philippin về việc thành lập một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác ở Biển Đông, bài viết phân tích về những khả năng cho đề xuất này, mà cụ thể là  tập trung vào việc xác định những khu vực có tranh chấp và không có tranh chấp. Bài viết cũng sẽ phân tích các nghĩa vụ theo luật quốc tế của các Quốc gia yêu sách liên quan đến các khu vực tranh chấp, trong đó bao gồm những hạn chế theo luật quốc tế đối với những hành động đơn phương mà Quốc gia được phép thực hiện trong các khu vực tranh chấp. Đọc tiếp...

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

GS. Stein Tønnesson, Luật Pháp Quốc tế ở Biển Đông:thúc đẩy hay hỗ trợ giải quyết xung đột?

Sự tác động qua lại giữa sức mạnh và luật pháp ở biển Đông chưa được hiểu một cách đúng đắn. Để phân tích các tranh chấp đối với các vấn đề về quyền hàng hải, chủ quyền đối với các hòn đảo và sự phân định ranh giới của các khu vực biển, chúng ta cần hiểu cách các nước định nghĩa và bảo vệ lợi ích địa chính trị của mình cũng như những cách thức mà luật pháp quốc tế ảnh hưởng đến các yêu sách và hành vi xung đột của họ. Đọc tiếp...

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

GS. Kuan-Hsiung Wang, Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực

Trước sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông, tác giả cho rằng hợp tác là một trong các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp. Nhằm thúc đẩy hợp tác tại khu vực Biển Đông, tác giả đề xuất có thể bắt đầu bằng việc bảo tồn và quản lý tài nguyên cá và cần phải được thực hiện theo một cơ chế thống nhất ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả. Bài viết này đưa ra kết luận về sự cần thiết của tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMO) trong việc bảo tồn và quản lý các tài nguyên nghề cá trên Biển Đông. Hơn nữa, mô hình này có thể góp phần giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Đọc tiếp...

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

GS. Leszek Buszynski, Quốc tế hóa Biển Đông: Ngăn chặn và quản lý xung đột

Bài viết phân tích những diến biến tranh chấp chủ quyền, vấn đề khai thác dầu khí tại Biển Đông – một nhân tố quan trọng khi mà nhu cầu về năng lượng toàn cầu ngày càng tăng, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Biển Đông đang được gắn với các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc khi nước này tăng cường phát triển sức mạnh quân sự để bảo vệ tuyến đường biển kéo dài đến Trung Đông. Nó cũng trở thành vấn đề đối với sự hiện diện của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương cũng như mối quan hệ đồng minh của nước này trong khu vực. Tác giả cho rằng điều cần thiết trong giai đoạn này là một thỏa thuận đa phương về các biện pháp để ngăn chặn việc các vấn đề nhỏ leo thang thành xung đột trong khi chưa có cách giải quyết đối với tranh chấp trong các yêu sách. Thỏa thuận này cần phải có hai nhân vật chính là Mỹ và Trung Quốc, cũng như các quốc gia yêu sách thuộc khối ASEAN. Đọc tiếp...

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Daniel Shaeffer, Tại sao Trung Quốc nhất định cần Biển Đông cho riêng mình: Một quan điểm độc lập và hướng tới tương lai từ bên ngoài

Nhiều người cho rằng sự quả quyết của Trung Quốc tại Biển Đông là dựa trên những lý do kinh tế và môi trường. Nhưng đấy chỉ là những lý do bề mặt. Biển Đông không khác gì một quân cờ trong kế hoạch phòng thủ tổng thể mà Trung Quốc đang xây dựng nhằm hạn chế cái được cho là mối đe dọa Mỹ.

Đọc tiếp...

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

TS. Koh Choong-suk và TS. Yearn Hong Choi, Vùng đặc quyền kinh tế trong các bài báo truyền thông và học thuật chủ yếu 2010: Biển Đông và các vùng biển khác

Bài nghiên cứu hướng đến tìm hiểu những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Trong bài viết tác giả liệt kê những vấn đề liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn đề trên biển và đại dương đã được thảo luận, những đề xuất để mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương. Cơ sở dữ liệu của công trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ thống thư viện công cộng ở Hoa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và các tờ báo lớn. Đọc tiếp...

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

TS. Nguyễn Thị Lan Anh, Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông

Biển Đông là nơi hội tụ của nhiều mối quan tâm về an ninh trên biển. Dưới góc độ an ninh truyền thống, những xung đột về yêu sách lãnh thổ và vùng biển ngày càng gay gắt khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tại khu vực biển Đông. Tất cả những triển vọng này đặt an ninh của khu vực biển Đông ở mức báo động cao. Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc là một khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằm giúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng và bền vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau, giúp các bên xác định và thu hẹp đối tượng của tranh chấp chủ quyền, thiết lập cơ chế hợp tác về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và đặc biệt là nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển nửa kín. Nhằm áp dụng hiệu quả các quy định của Công ước vào bối cảnh đặc thù của biển Đông, các quốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luật ứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực. Đọc tiếp...

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

GS. Jon M. Van Dyke, Hợp tác khu vực ở Biển Đông

Là biển nửa kín, theo , Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc quy định rằng các quốc gia ven bờ “nên hợp tác với nhau để thực thi các quyền và nghĩa vụ của họ theo Công ước”. Cụ thể hơn, Công ước hướng dẫn các nước phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn lợi sinh vật của biển” và phối hợp các hoạt động của họ liên quan đến việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển”. Mặc dù vậy, theo GS. Jon M. Van Dyke[1] các nước ven bờ Biển Đông đã không xây dựng được một tổ chức khu vực hiệu quả nào và hợp tác trực tiếp về cơ bản cũng không thành công. Đọc tiếp...

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

TS. S.D. Pradhan, Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông: Nguyên nhân và giải pháp

Những yêu sách đối kháng, tầm quan trọng cả về chiến lược và kinh tế, đặc biệt là những động thái và quan điểm của Trung Quốc gần đây trong tranh chấp biên giới cả trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng đã khiến cho tình hình Biển Đông  trở nên căng thẳng, thậm chí theo  các chuyên gia ẩn chứa rủi ro xung đột vũ trang. Tuy nhiên, theo tác giả một số các tiến triển có tính tích cực cũng đã diễn ra, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số giải pháp thực tiễn giải quyết vấn đề

Đọc tiếp...

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

TS. Renato Cruz De Castro, Cách tiếp cận thực dụng của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông: Tác động tới an ninh khu vực

Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử b) áp dụng cách tiếp cận song phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ta một sự chia rẽ giữa ASEAN và Mỹ; và d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo cách của mình. Với cách tiếp cận chính trị thực tiễn mà Trung Quốc sử dụng trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.

Đọc tiếp...

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

GS. Koichi Sato, Biển Đông: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với hợp tác an ninh

Những tuyên bố và hành động nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đang gây căng thẳng với các nước láng giềng Đông Nam Á. Mỹ, Nhật và Úc cũng thể hiện sự quan ngại đối với an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông. Bài tham luận[1] phân tích những thách thức trên biển này và những hệ lụy đối với hợp tác an ninh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng bao gồm Nhật và Mỹ.

Đọc tiếp...

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Hà Anh Tuấn, ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Căng thẳng đang leo thang xung quanh những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ASEAN, được cho là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Bài viết này phân tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh chấp. Đọc tiếp...

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

TS. Vijay Sakhuja, Lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông

Thời gian gấn đây, Biển Đông luôn trong tâm điểm của dư luận quốc tế bởi những hành động, tuyên bố của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền tại Biển Đông. Đáng lưu ý là việc nước này cảnh báo sự can dự của các quốc gia không liên quan bên ngoài. Tất cả những yếu tố gây bất ổn đó cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Ấn Độ trên khía cạnh thương mại hảng hải, khai thác dầu khí. New Delhi cũng gia tăng quan ngại về tuyên bố “ những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc vì rất có thể điều này cũng sẽ mở rộng áp dụng đối với những khu vực tranh chấp biên giới phía bắc của Ấn Độ. Đọc tiếp...

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

GS. Evgeny A.Kanaev, Nga và vấn đề Biển Đông: Tìm hiểu một cách tiếp cận thực tiễn

Những diến biến tại Biển Đông gần đây cho thấy một điều gần như chắc chắn rằng hồ sơ vấn đề Biển Đông sẽ ngày một quan trọng đối với các cường quốc châu Á  - Thái Bình Dương. Từ những đánh giá về những nỗ lực của ASEAN nhằm giải quyết vấn đề, bài viết đưa ra những lựa chọn trong chính sách của Nga đối với Biển Đông một cách phù hợp nhằm giảm căng thẳng vấn đề tranh chấp tại đây.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 10183 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin