24 - 9 - 2018 | 8:38
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home KINH TẾ/HỘI NHẬP Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Email In PDF.

Mỹ đã và đang có sự bất mãn ngày càng gia tăng đối với việc Bắc Kinh không tuân theo các chuẩn mực kinh tế tự do. Việc để cho Trung Quốc gia nhập WTO có phải là một sai lầm chiến lược hay không? Nếu đó là một sai lầm, có lựa chọn thay thế nào tốt hơn?

 

Tại sao không có lựa chọn thay thế nào tốt hơn?

Như gói thuế quan thương mại trị giá 60 tỷ USD mỗi năm đối với Trung Quốc mà Tổng thống Donald Trump đưa ra gần đây đã làm sáng tỏ, ở Mỹ đã và đang có sự bất mãn ngày càng gia tăng đối với việc Bắc Kinh không tuân theo các chuẩn mực kinh tế tự do. Cảm giác bất an trước chủ nghĩa bảo hộ của Trung Quốc và tác động tiêu cực của nó đối với các nền kinh tế phát triển không chỉ xuất phát từ Nhà Trắng, mà còn từ các cử tri cũng như từ giới ngoại giao, thương mại và học giả. Điệp khúc giận dữ thậm chí đã làm dấy lên những mối nghi ngờ về việc phương Tây thời điểm đó có nên kết nạp Trung Quốc vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hay không, khi mà hệ thống dựa trên các quy tắc của tổ chức này dường như đã để cho Bắc Kinh phát triển thịnh vượng ngay cả khi họ có hành vi đáng ngờ. Việc để cho Trung Quốc gia nhập WTO có phải là một sai lầm chiến lược hay không?

Trong một báo cáo được công bố vào đầu năm 2018, Đại diện thương mại Mỹ đã lập luận khá khiêu khích rằng Mỹ quả thật đã "sai lầm trong việc ủng hộ Trung Quốc gia nhập WTO dựa trên các điều khoản được chứng tỏ là không hiệu quả trong việc bảo đảm Trung Quốc đón nhận một cơ chế thương mại cởi mở có định hướng thị trường". Nhưng nước này có sai lầm hay không? Việc bác bỏ một chính sách chỉ dựa trên cơ sở những kết quả không may diễn ra sau đó là một sự kém cỏi trong việc ra quyết định. Một cách tiếp cận như vậy không đề cập được đến việc có lựa chọn thay thế nào ưu việt hơn hay không vào thời điểm hình thành một chính sách như vậy. Trong trường hợp Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, thực tế là việc xác định một lựa chọn thay thế được ưa thích, ngay cả với lợi thế nhận thức muộn, là một khó khăn phi thường.

Trở lại bàn đàm phán

Để xem xét lại những lợi ích của việc ủng hộ tư cách thành viên WTO của Trung Quốc, chúng ta cần tái hiện tình hình khi đó. Trong quá trình đàm phán kéo dài 15 năm trước năm 2001, Mỹ và các quốc gia khác đã đặt ra một vài điều kiện để Trung Quốc được gia nhập, trong đó có một loạt cam kết tự do hóa với phạm vi rộng lớn. Chúng bao gồm những sự nhượng bộ như gỡ bỏ thuế quan đối với nhiều chủng loại hàng hóa, mở cửa thương mại nông nghiệp và cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thâm nhập. Trái lại, Mỹ không cần có bất kỳ sự nhượng bộ mới nào để mở cửa thị trường; nước này chỉ cần bảo đảm rằng họ sẽ đem lại cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc - cơ bản vẫn là các mức thuế quan mà Mỹ đã đưa ra cho Bắc Kinh từ năm 1980. Trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, về thực chất, Mỹ đã đối xử với Trung Quốc theo quy chế tối huệ quốc thông qua việc định kỳ trì hoãn đạo luật sửa đổi Jackson-Vanik năm 1974, một đạo luật nhằm hạn chế các lợi ích thương mại mà Mỹ đưa ra cho các nước theo chủ nghĩa cộng sản. Do đó, khi Trung Quốc gia nhập WTO, Quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu dừng việc xét lại định kỳ và duy trì vĩnh viễn những đặc quyền mà họ đã trao cho Bắc Kinh trong 20 năm trước đó.

Vậy khi đó có những lựa chọn chính sách thay thế nào?

Một lựa chọn là không cho Trung Quốc hưởng quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, đồng thời duy trì chính sách thương mại tồn tại khi đó. Vào năm 2000, việc trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn đã gây nhiều tranh cãi trong Quốc hội Mỹ vì những sự phản đối dành cho các hành động nhân quyền của Trung Quốc. Đưa ra lập luận ủng hộ dựa trên dự đoán, Tổng thống Bill Clinton đã nói: "Quốc hội sẽ không bỏ phiếu về việc liệu Trung Quốc có gia nhập WTO hay không. Quốc hội chỉ có thể quyết định liệu Mỹ có chia sẻ các lợi ích kinh tế của việc Trung Quốc gia nhập WTO hay không". Quả thật, nếu Mỹ không ủng hộ Trung Quốc gia nhập, thì nước này sẽ không nhận được những lợi ích từ việc Trung Quốc mở cửa. Trung Quốc có thể duy trì tất cả các rào cản thương mại ở mức cao đối với Mỹ trong khi dỡ bỏ chúng đối với các quốc gia khác. Mỹ lẽ ra có khả năng áp đặt các mức quan thuế phi tối huệ quốc cao hơn đối với Trung Quốc theo nguyên tắc bất hồi tố, nhưng nước này vốn đã quyết định phản đối cách làm này trong 2 thập kỷ trước đó.

Do đó, chính sách phủ nhận tối huệ quốc rõ ràng thua kém hơn, vì nó từ bỏ các lợi ích của tư cách thành viên của Trung Quốc đồng thời giữ lại toàn bộ phí tổn đi kèm với các rào cản ở mức thấp đối với hàng hóa Trung Quốc. Hơn nữa, động thái này sẽ gây chia rẽ trong cộng đồng quốc tế về vấn đề Trung Quốc, khi xét đến việc hầu hết các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vào thời điểm đó đều ủng hộ nước này gia nhập. Sự chia rẽ này sẽ làm suy yếu đáng kể WTO trong những giai đoạn đầu của nó, do đó làm suy yếu mục tiêu chính sách đối ngoại chủ yếu của Mỹ là tăng cường hệ thống thương mại toàn cầu.

Nếu Mỹ chọn cách đảo ngược sự cởi mở đã có từ lâu của nước này đối với hàng hóa Trung Quốc, thì chính sách cứng rắn hơn sẽ là từ bỏ việc đối xử theo quy chế tối huệ quốc và nâng cao rào cản đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Có thể đạt được điều này theo nhiều cách, nhưng tất cả dường như đều rất có vấn đề.

Ở cấp độ đơn giản nhất, Mỹ có thể chỉ tăng thuế quan đối với thành phẩm của Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này sẽ không chỉ làm tổn hại tới người tiêu dùng và doanh nghiệp Mỹ hưởng lợi từ các mặt hàng nhập khẩu đó, mà Bắc Kinh cũng sẽ hiểu điều đó như một hành động thù địch. Và thêm vào đó, nó có khả năng tỏ ra không hiệu quả trong việc ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Khi Trung Quốc hạ thấp giá đồ chơi và áo phông ở các thị trường toàn cầu khác, sẽ rất khó để Mỹ tự cách ly mình trước các tác động đó. Hơn nữa, Trung Quốc cuối cùng đã nổi lên như một bên tham gia kinh tế toàn cầu chủ yếu bằng cách tiếp cận các chuỗi giá trị toàn cầu. Vì Trung Quốc là giai đoạn cuối cùng trong chuỗi, nên một thành phẩm có thể có vẻ như đến từ Trung Quốc, ngay cả khi giá trị gia tăng của Trung Quốc là tương đối nhỏ. Vì thuế quan của Mỹ được áp đặt dựa vào nơi hàng hóa được hoàn thiện, chứ không dựa trên giá trị gia tăng, nên Trung Quốc có thể dễ dàng đánh lừa các thị trường Mỹ bằng cách thực hiện các công đoạn ban đầu rồi hoàn thiện hàng hóa ở Malaysia hay một quốc gia láng giềng nào đó. Đây là vấn đề đối với việc thực hiện chính sách song phương trong một thế giới đa phương. Tóm lại, lựa chọn thay thế thứ hai này chẳng tốt đẹp gì hơn lựa chọn đầu tiên, và rõ ràng tồi tệ hơn chính sách hiện tại.

Như một lựa chọn thay thế cuối cùng, Mỹ có thể tăng cường các "kẽ hở" trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc và tìm cách tập hợp các quốc gia khác nhằm loại trừ Trung Quốc khỏi nền kinh tế toàn cầu, qua đó ngăn chặn sự trỗi dậy của nước này. Việc này có thể giải quyết một số mối quan ngại của lựa chọn thay thế thứ hai, nhưng nó có vẻ nguy hiểm, vô lý và bất khả thi: nguy hiểm vì việc tìm cách cô lập Trung Quốc với ý định công khai cản trở sự tăng trưởng của Trung Quốc có khả năng gây ra một phản ứng thù địch; vô lý vì vào cuối năm 2001, Mỹ đang tìm cách tập hợp toàn thế giới nhằm phản ứng trước chủ nghĩa khủng bố đang nổi lên từ Trung Đông; và bất khả thi vì Mỹ đã có một khoảng thời gian khó khăn khi tìm cách cô lập các quốc gia có nền kinh tế nhỏ hơn nhiều, chẳng hạn như Iran và Triều Tiên. Việc tìm cách cô lập Trung Quốc sẽ còn khó khăn hơn gấp bội.

Ảnh hưởng của Trung Quốc là gì?

Khi không tồn tại chính sách nào tốt hơn, thì việc kết nạp Trung Quốc vào WTO dường như không phải là một sai lầm. Tuy vậy, việc xem xét một vài hệ quả mà hiện nay đã và đang làm dấy lên những mối quan ngại như vậy có lẽ là điều đáng làm.

Trước khi nói tới các mối quan ngại này, điều đáng lưu ý là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, GDP bình quân đầu người được điều chỉnh theo lạm phát của Mỹ đã tăng từ 44.400 USD trong quý IV năm 2001 lên 52.800 USD trong quý IV năm 2017, tăng gần 19%. Trong cùng kỳ, sản lượng được điều chỉnh theo lạm phát của ngành chế tạo Mỹ đã tăng hơn 15. Tuy nhiên, những người Mỹ chỉ trích thương mại với Trung Quốc rất có khả năng tập trung vào tác động của nó đối với công ăn việc làm trong ngành chế tạo. Một thước đo hữu ích để đánh giá điều này là tỷ trọng của việc làm thuộc ngành chế tạo trong tổng tiền lương ngoài nông nghiệp của Mỹ, vốn là chỉ báo chủ yếu để đánh giá hoạt động tạo công ăn việc làm ở Mỹ. Chỉ số này đã giảm mạnh sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, từ 12% vào tháng 12/2001 xuống 8,5% vào tháng 12/2017. Tuy vậy, sự sụt giảm đó thực ra lại thể hiện sự chậm lại của một xu hướng đã có từ trước. Nếu tính đến 16 năm trước khi Trung Quốc gia nhập, tỷ trọng lao động trong ngành chế tạo Mỹ đã giảm hơn 33% từ mức năm 1985. Có thể lập luận rằng Trung Quốc ít nhất đã bắt đầu can dự vào hệ thống thương mại toàn cầu trong thời gian đó, dù chưa gia nhập WTO, do vậy có lẽ nước này đã đóng vai trò nào đó trong sự sụt giảm việc làm trong ngành chế tạo. Nhưng khi xem xét khoảng thời gian 16 năm trước đó, chúng ta có thể nhận thấy cùng xu hướng này ở Mỹ. Điều đó đã diễn ra trong thời kỳ mà khi đó Trung Quốc phần lớn bị cô lập với nền kinh tế toàn cầu và do đó không thể bị quy trách nhiệm.

Đương nhiên, thách thức ở đây là tìm cách tách biệt ảnh hưởng của Trung Quốc khỏi các xu hướng rộng lớn hơn. Cách lý tưởng để làm việc này là so sánh hồ sơ thành tích của Trung Quốc với tư cách một thành viên WTO với kết quả ước tính theo một kịch bản thay thế - nhưng như chúng ta đã thấy, trong số 3 lựa chọn thay thế có thể có được vạch ra ở phần trên, không có lựa chọn nào đem lại các kết quả tốt hơn. Đơn giản là không có sự phản biện hợp lý nào. Đây là một vấn đề phổ biến đối với phần lớn các tài liệu học thuật được phát triển xoay quanh "cú sốc thương mại Trung Quốc", một giả thuyết khẳng định rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc gây ảnh hưởng tiêu cực đến người lao động và ngành chế tạo ở các nước phát triển. Nhưng lối tư duy này không chỉ không thử nghiệm được đối với một lựa chọn chính sách thay thế, mà nó còn không mô phỏng được một thế giới mà trong đó các nhà cung cấp chi phí thấp khác nổi lên thách thức ưu thế của Trung Quốc trong ngành chế tạo vốn cần nhiều nhân công.

Thay vì tập trung vào tác động kinh tế, người ta có thể xem xét những hạn chế mà tư cách thành viên WTO của Trung Quốc đặt ra cho Mỹ. Cụ thể là việc không có khả năng áp đặt thuế quan và yêu cầu đối với việc theo đuổi các tranh chấp trong khuôn khổ WTO.

Trên thực tế, trong 15 năm sau khi Trung Quốc gia nhập, Mỹ đã được hưởng quyền tự do lớn trong việc áp đặt thuế quan lên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Như một phần của việc Trung Quốc gia nhập, Mỹ có quyền áp đặt một biện pháp bảo vệ đặc biệt đối với Trung Quốc nếu nhận thấy hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đang làm rối loạn các thị trường Mỹ. (Điều này được biết đến với tên gọi Mục 421). Có tổng cộng bảy trường hợp như vậy được đệ trình theo điều khoản này. Năm trường hợp đã được Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ thông qua, nhưng chỉ có 1 trường hợp dẫn tới việc Mỹ áp đặt thuế quan - cụ thể là đối với lốp xe Trung Quốc. Tuy nhiên, nhìn lại, trường hợp của thuế quan đánh vào lốp xe dường như là một thất bại về chính sách, vì Mỹ hầu hết dựa vào lốp xe nhập khẩu từ các quốc gia khác với mức giá có phần cao hơn. Do đó, bằng chứng rõ ràng là Mỹ đặc biệt không bị kiềm chế trong khả năng của nước này áp đặt thuế quan song phương, mà nước này chỉ lựa chọn không làm như vậy một cách khôn ngoan.

Vậy còn sự sẵn sàng của Trung Quốc trong việc tuân theo các quy tắc của WTO thì sao? Mỹ đã đệ trình 12 cáo buộc lên WTO mà đã dẫn tới các phán quyết chống lại Trung Quốc. Trong tất cả các vụ việc này, Trung Quốc đều có hành động tuân thủ nào đó. Không có vụ việc nào trong số này phát sinh yêu cầu đình chỉ Điều 22, mà trong đó một bên đe dọa đưa ra các biện pháp trừng phạt thương mại do có sự không tuân thủ. Điều này cho thấy WTO đã thành công trong việc khuyến khích Trung Quốc giữ vững các cam kết của nước này.
Vấn đề đối với báo cáo tháng 1/2018 của Đại diện thương mại Mỹ - trong đó khẳng định rằng Mỹ đã sai lầm khi để Trung Quốc gia nhập WTO - là các cam kết mà Trung Quốc đưa ra vào năm 2001 không bao hàm tất cả các hành vi gây lo ngại hiện nay. Cả nghi thức gia nhập WTO của Trung Quốc lẫn cấu trúc của tổ chức này vào năm 2001 đều không đủ để bảo đảm hành vi kinh tế lý tưởng của Trung Quốc trong những thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, đây là lý do để lên án việc sau đó không thông qua được các quy tắc đa phương mới, chứ không phải việc quyết định kết nạp Trung Quốc vào hệ thống toàn cầu. Trung Quốc tiếp tục đặt ra các thách thức về chính sách kinh tế, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy rằng chúng sẽ dễ giải quyết hơn nếu Trung Quốc không bị ràng buộc bởi các quy tắc của WTO.

Philip Levy là nhà nghiên cứu cao cấp Trung tâm Kinh tế Toàn cầu tại Hội đồng Chicago về các Vấn đề Toàn cầu, Giáo sư Liên kết về Chiến lược tại Trường Quản trị Kellogg, Đại học Northwwestern. Trước đây, ông là nhà Kinh tế cao cấp Thương mại cho Hội đồng Cố vấn Kinh tế của tổng thống Mỹ George W. Bush và là thành viên Chính sách Hoạch định Nhân sự của cựu Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Văn Cường (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Một cách hiệu quả hơn để thách thức Trung Quốc về thương mại

Một cách hiệu quả hơn để thách thức Trung Quốc về thương mại

Khao khát của Trump là chiến đấu chống lại chủ nghĩa trọng thương của Trung Quốc được chia sẻ rộng rãi trên mọi phương diện chính trị của Mỹ và ngày càng nhiều trong khu vực tư nhân Mỹ. Tuy nhiên, điều gây tranh cãi nhiều hơn là cách tiếp cận của ông.

Đọc tiếp...

Chiến lược vượt qua Mỹ của các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương

Chiến lược vượt qua Mỹ của các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương

Nhật Bản và Úc đã đóng vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương mà không có Mỹ. Thỏa thuận này được ký kết vào ngày 8/3 và có khả năng sớm có hiệu lực vào đầu năm 2019, sau khi ít nhất 6 trên 11 quốc gia thành viên thông qua.

Đọc tiếp...

Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Kết nạp Trung Quốc vào WTO có phải là sai lầm?

Mỹ đã và đang có sự bất mãn ngày càng gia tăng đối với việc Bắc Kinh không tuân theo các chuẩn mực kinh tế tự do. Việc để cho Trung Quốc gia nhập WTO có phải là một sai lầm chiến lược hay không? Nếu đó là một sai lầm, có lựa chọn thay thế nào tốt hơn?

Đọc tiếp...

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có phải là lựa chọn duy nhất?

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung có phải là lựa chọn duy nhất?

Đối thoại vẫn là thiết yếu. Nó phải được thực hiện thường xuyên, không phải để tạo ra một vẻ ngoài giả tạo là kết hợp các quy chuẩn mà đơn thuần để tránh những cơn phẫn nộ không cần thiết và phản tác dụng. Không dễ để thắng trong những cuộc chiến tranh thương mại. Mặt khác, về cơ bản không dễ để thua trong các cuộc đối thoại.

Đọc tiếp...

Mỹ đã đánh mất ảnh hưởng tại châu Á như thế nào?

Mỹ đã đánh mất ảnh hưởng tại châu Á như thế nào?

Nếu Mỹ tiếp tục duy trì vị thế lãnh đạo APEC trong việc thúc đẩy Khu vực mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương thì việc rút khỏi TPP là một sai lầm chính sách khủng khiếp. Một lý do mà Nhật Bản dẫn đầu thúc đẩy CPTPP là để chờ đợi “Người đẹp ngủ trong rừng” thức giấc trong tương lai gần.

Đọc tiếp...

Địa chính trị của “cuộc chiến thương mại” giữa Mỹ và các nước

Địa chính trị của “cuộc chiến thương mại” giữa Mỹ và các nước

Mối đe dọa của cuộc chiến thương mại từ Donald Trump sẽ là một phép thử năng lực của châu Âu và người châu Âu trong việc tự vệ và thúc đẩy một cách nhìn khác về thế giới so với cách nhìn của Tổng thống Mỹ.

Đọc tiếp...

TPP sống sót, Mỹ thất thủ

TPP sống sót, Mỹ thất thủ

Người ta tiếc cho thỏa thuận TPP và viết nhiều lời tuyên bố về sự chấm dứt của thỏa thuận này. Nhưng một năm sau đó, tình thế đã đổi khác.

Đọc tiếp...

Phải chăng kỷ nguyên lao động giá rẻ của Trung Quốc thực sự đã qua?

Phải chăng kỷ nguyên lao động giá rẻ của Trung Quốc thực sự đã qua?

Lương của người lao động Trung Quốc có thể đang tăng, nhưng số liệu thống kê chính thức không nói lên toàn bộ câu chuyện. 

Đọc tiếp...

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc tại châu Âu: Bài học cho Đông Nam Á

Đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu hiện nay vẫn còn hạn chế, tuy nhiên EU đang cảm thấy áp lực ngày càng lớn khi chưa rõ động cơ đằng sau các nguồn đầu tư này. Những phân tích về tác động từ những khoản đầu tư của Trung Quốc vào Châu Âu rất đáng để Đông Nam Á học hỏi.

Đọc tiếp...

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Lý do quan hệ kinh tế Mỹ-Trung cần cân bằng hơn

Cả Mỹ và Trung Quốc đều gắn với nhau do sự phụ thuộc cùng có lợi. Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Mỹ với khoảng 161,6 tỷ USD trong năm 2015 trong khi Mỹ dựa vào việc Trung Quốc nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ và các tài sản USD khác.

Đọc tiếp...

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ RCEP giữa Trung – Nhật

Cuộc ganh đua nhằm tạo dựng khuôn khổ của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đang tăng tốc, khi Trung Quốc và Nhật Bản có cách nhìn khác nhau về thỏa thuận thương mại tại khu vực có phạm vi ảnh hưởng tới 1/2 dân số thế giới và chiếm 1/3 sản lượng kinh tế toàn cầu này.

Đọc tiếp...

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia coi trọng IORA chỉ sau ASEAN?

Indonesia đang nỗ lực thể hiện vai trò, vị trí của mình trong Hiệp hội các Quốc gia vành đai Ấn Độ Dương với mong muốn tổ chức này sẽ góp phần thực hiện chiến lược trở thành “trung tâm biển” của nước này, giúp đưa Indonesia lên một tầm cao mới.

Đọc tiếp...

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Các quốc gia như Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam đều có những đặc điểm để thay thế Trung Quốc, trong đó Ấn Độ là nước đang chiếm ưu thế nhất. Tuy nhiên, điều này chưa phải là cơ sở đầy đủ để cho rằng các quốc gia khác sẽ không thể trở thành một "Trung Quốc mới". 

Đọc tiếp...

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Về kinh tế và nhất là trong đầu tư, những số liệu cụ thể cho thấy rằng, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Với việc Trung Quốc có những hành động không mấy “thân thiện” với các nhà đầu tư Mỹ, đã đến lúc Mỹ cần thay đổi và mạnh tay hơn với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Những tác động rõ ràng đầu tiên của Brexit

Hơn 6 tuần đã trôi qua kể từ khi cử tri Vương quốc Anh quyết định để quốc gia này rút khỏi Liên minh châu Âu (EU), khoảng thời gian đủ để một số tác động kinh tế của cuộc trưng cầu dân ý đó trở nên rõ ràng đối với cả Anh và châu Âu.

Đọc tiếp...

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Việt Nam được lợi gì từ Brexit

Đối với kinh tế Việt Nam, Brexit không hẳn sẽ chỉ đem đến những tác động tiêu cực mà Việt Nam sẽ vẫn có được một số lợi ích nhất định, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

Đọc tiếp...

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Vấn đề Brexit: Cuộc khủng hoảng kinh tế mới chỉ bắt đầu

Các chuyên gia cũng thường mắc sai lầm, song lần này, những người ủng hộ Brexit sẽ phải trả giá đắt vì đã phớt lờ ý kiến từ các chuyên gia kinh tế. Cuộc trưng cầu ý dân này sẽ đem đến những hệ lụy tức thì và thậm chí là lâu dài.

Đọc tiếp...

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

TPP và những tác động đối với Châu Á - Thái Bình Dương

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao đối với các thành viên tham gia, trong khi đó thế giới hiện cũng đang tồn tại nhiều hiệp định, cơ chế thương mại vốn đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia. Vậy tại sao TPP lại thu hút sự quan tâm của các nền kinh tế và là trung tâm trong các cuộc tranh luận?

Đọc tiếp...

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Các đánh giá thường thể hiện Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất đối với các nước Đông Nam Á. Nhưng theo quan điểm của tác giả, thực chất lại hoàn toàn không phải vậy.

Đọc tiếp...

Báo cáo của ADB: Xu hướng và Triển vọng kinh tế Trung Quốc

Báo cáo của ADB: Xu hướng và Triển vọng kinh tế Trung Quốc

Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á, tăng trưởng GDP của Trung Quốc được dự đoán sẽ giảm xuống 6,5% trong năm 2016, nằm trong phạm vi mục tiêu của chính phủ là 6,5%-7%, và giảm xuống 6,3% trong năm 2017 trước khi ổn định hay tăng lên một lần nữa.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8074 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin