18 - 12 - 2017 | 19:58
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Trung Quốc và mạng lưới giao thông hạ tầng tại tiểu vùng sông Mekong

Trung Quốc và mạng lưới giao thông hạ tầng tại tiểu vùng sông Mekong

Email In PDF.

Quá trình mở rộng và hình thành mạng lưới hạ tầng giao thông tại khu vực tiểu vùng sông Mekong tăng tốc trong 5 năm trở lại đây và Trung Quốc là một động lực thúc đẩy. Sự xuất hiện của các “vùng tập trung quốc tế” được liên kết và thúc đẩy bởi Trung Quốc không những đang thay đổi “địa kinh tế”, mà còn định hình những hình dung về địa “chiến lược và chính trị” trong khu vực.

 

Gỡ nút giao thông, thắt nút chiến lược?

Quá trình mở rộng và hình thành mạng lưới hạ tầng giao thông tại khu vực tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Sub-region, gọi tắt là GMS[1]) tăng tốc trong 5 năm trở lại đây và Trung Quốc là một động lực thúc đẩy. Sự xuất hiện của các “vùng tập trung quốc tế” (International Hub) được liên kết và thúc đẩy bởi Trung Quốc không những đang thay đổi “địa kinh tế”, mà còn định hình những hình dung về địa “chiến lược và chính trị” trong khu vực. Việc gỡ nút thắt về kết cấu hạ tầng đang hình thành những nút thắt khác về kinh tế và chiến lược, mà Bắc Kinh đang là người điều phối.     

Nút thắt hạ tầng giao thông tại khu vực GMS

Khu vực GMS bao gồm sáu quốc gia được kết nối với nhau qua ba kênh chính: (i) Sông Mekong (khởi nguồn từ Trung Quốc); (ii) Chín hành lang kinh tế; và (iii) các liên kết về văn hóa, xã hội. Từ khi Chương trình hợp tác kinh tế GMS do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) khởi xướng được triển khai năm 1992, các quốc gia GMS đã cùng hợp tác  trong các chương trình đầu tư thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.  Có tất cả sáu lĩnh vực được ưu tiên, bao gồm: (1) Giao thông, (2) Viễn thông, (3) Năng lượng, (4) Nguồn nhân lực, (5) Môi trường, (6) Thương mại và Đầu tư. Đến năm 1994, GMS thêm lĩnh vực Du lịch.

Đến năm 1998, Thương mại và Đầu tư được chia thành hai lĩnh vực độc lập; và đến năm 2001 thì Nông nghiệp cũng được xếp vào lĩnh vực được ưu tiên đầu tư. Ở giai đoạn này, việc cải thiện hệ thống hạ tầng giao thông được ưu tiên nhiều nhất so với các lĩnh vực còn lại vì sự kết hợp giữa cơ sở hạ tầng giao thông biên giới và nội địa có thể làm giảm chi phí vận tải và trực tiếp dẫn đến tăng trưởng về ngoại thương. 

Một sáng kiến chủ chốt trong đó là chương trình Nghiên cứu về lĩnh vực giao thông (Transport Sector Study - TSS) giai đoạn 2006-2015, được tất cả các quốc gia GMS đồng ý thông qua tại hội nghị lần thứ 10 về vấn đề giao thông khu vực tiểu vùng sông Mekong (STF 10) tổ chức từ 21-23/3/2006 tại Vientiane, Lào. Kể từ đó, các quốc gia GMS đã tiến hành triển khai nhiều dự án về giao thông dựa trên TSS, giai đoạn 2006-2015.


Chương trình TSS giai đoạn 2006-2015 đã trải qua nhiều thay đổi kể từ khi được thực thi vào năm 2006 bởi các quốc gia GMS. Gần đây, các quốc gia GMS đã đề ra Chương trình khung Đầu tư khu vực (Regional Investment Framework - RIF) - một dự án đường ống mới nhằm triển khai Khuôn khổ chiến lược GMS giai đoạn 2012-2022 (còn gọi là Khuôn khổ chiến lược mới - new Strategic Framework), được thông qua tại hội nghị lãnh đạo thượng đỉnh lần thứ tư tại Nay Pyi Taw, Myanmar tháng 12 năm 2011. RIF bao gồm các dự án liên quan tới giao thông, gắn với các định hướng trong khuôn khổ chiến lược mới, bao gồm cả các sáng kiến nhằm mở rộng và phát triển các hành lang kinh tế GMS, các cách tiếp cận đa lĩnh vực, và các dự án giao thông đa phương tiện (Multi-modalism). Giai đoạn năm 2014 - 2018, GMS tiếp tục đẩy mạnh đầu tư lĩnh vực giao thông, chiếm 90,2% tổng vốn đầu tư trong chín lĩnh vực được ưu tiên. Xu hướng đầu tư vào hạ tầng giao thông vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển đến năm 2020.

Yếu tố Trung Quốc

Vào các năm 2002, 2005 và 2008, Trung Quốc đã phát hành ba bản báo cáo nhà nước về việc tham gia vào tiểu vùng Mekong. Ba cơ quan phối hợp là  Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước, Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính. Mục tiêu tổng quát của Trung Quốc được đưa ra trong việc tham gia vào hợp tác GMS có thể tóm tắt qua ba điểm chính. Một là kết nối các vùng đất hành lang giữa tây nam Trung Quốc (cụ thể là tỉnh Vân Nam) với bán đảo Đông Dương. Hai là kết nối thị trường giữa tây nam Trung Quốc và Đông Nam Á, đẩy mạnh quan hệ về kinh tế, giao lưu chung, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học kĩ thuật ở nhiều cấp độ, dưới nhiều hình thức và ở nhiều lĩnh vực. Quan trọng hơn, hợp tác GMS thông qua đối thoại và việc tăng cường triển khai các dự án chung nhằm hướng tới thiết lập quan hệ kinh tế cùng có lợi, xây dựng môi trường đầu tư và thương mại quốc tế thích hợp, xây dựng quan hệ hợp tác hữu nghị, ổn định lâu dài giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

Từ năm 1992, khi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tiến hành nhiều chương trình phát triển GMS, Trung Quốc đã rất nỗ lực kết nối tỉnh Vân Nam (và sau này còn có thêm vùng Quảng Tây) với các quốc gia khu vực GMS. Tỉnh Vân Nam nằm ở khu vực biên giới phía tây nam của Trung Quốc, tiếp giáp với Lào, Myanmar và Việt Nam ở phía tây và phía nam, có đường biên giới dài 4.060 km và gần với Thái Lan, Campuchia, Bangladesh và Ấn Độ. Dù sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú và lợi thế địa lý tiếp cận với thị trường Đông Nam Á, Vân Nam vẫn trong tình trạng nghèo và kém phát triển.

Trong những năm 1990, chính quyền tỉnh Vân Nam đưa ra một chiến lược phát triển, cụ thể là xây dựng Vân Nam thành một đô thị lớn của cả nước, nền kinh tế xanh phát triển, một tỉnh có nền văn hóa quốc gia phong phú, đầy màu sắc và trở thành “cửa ngõ” quan trọng giao lưu với khu vực Đông Nam Á và Nam Á. Vân Nam là thành tố quan trọng của Trung Quốc khi tham gia hợp tác GMS và tích cực đẩy mạnh sự phát triển của hợp tác này. Có ít nhất bốn lí do Vân Nam tham gia Chương trình Hợp tác GMS mở rộng: (i) Vân Nam nằm ở thượng nguồn sông Lancang-Mekong, đoạn chảy qua tỉnh Vân Nam dài 1247 km. Về mặt địa lý, Vân Nam thuộc thung lũng sông Mekong. Đây là điều dĩ nhiên Vân Nam tham gia Hợp tác GMS. Vì vậy, chính phủ Trung Quốc ngay từ đầu đã xác định tỉnh Vân Nam đại diện Trung Quốc tham gia hợp tác GMS; (ii) Vân Nam cần mở rộng cửa ngõ giao lưu với Đông Nam Á và Nam Á. Để thay đổi tình trạng lạc hậu, tỉnh Vân Nam cần phải xây dựng mạng lưới giao thông liên kết với Đông Nam Á, thoát khỏi mô hình giao thông “nút cổ chai” và mở cửa ra biển. Sự xem xét này của Vân Nam gắn liền với Chương trình GMS, như mục tiêu của dự án là xây dựng ba hành lang giao thông Bắc-Nam chỉ để kết nối với tỉnh Vân Nam, Tây Nam Trung Quốc với các nước trong GMS. Là điểm khởi đầu của ba hành lang giao thông Bắc-Nam, Vân Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hành lang giao thông này, kể cả hành lang kinh tế; (iii) Việc Vân Nam ngày càng mở cửa với thế giới bên ngoài thực sự mang lại nhiều lợi ích. Tham gia vào Hợp tác GMS, Vân Nam có thể có thêm nhiều sự giao thoa thuận tiện hơn với thị trường thế giới, tăng cường bổ trợ nền kinh tế các nước ASEAN. Do vậy, Vân Nam hoàn toàn có đủ khả năng tận dụng mọi nguồn lực và thị trường trong và ngoài nước để thúc đẩy nền kinh tế và xã hội phát triển; (iv) Thứ tư, tỉnh Vân Nam cần duy trì một môi trường hòa bình và ổn định với những nước láng giềng. Do vị trí địa lý đặc biệt tiếp giáp với ba quốc gia, cần phải giải quyết mối quan hệ tốt với những nước láng giềng, tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết và hợp tác. Sự tham gia của Vân Nam trong GMS là quan trọng nhất nhằm duy trì hòa bình khu vực biên giới ở Tây Nam Trung Quốc.

Thực trạng đầu tư

Kể từ khi hội nghị thượng đỉnh GMS lần ba trong năm 2008 và đặc biệt là kể từ khi thành lập Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN, thương mại song phương giữa Trung Quốc và các nước GMS khác đã minh chứng được động lực phát triển lớn hơn với một cơ cấu thương mại được cải thiện và đầu tư song phương tăng nhanh.

 

Biểu đồ: Thương mại của Trung Quốc với 5 quốc gia GMS, 1990-2011

Dưới hình thức liên doanh hoặc các doanh nghiệp được phía Trung Quốc đầu tư toàn bộ, Trung Quốc đã tham gia vào việc xây dựng khu hợp tác kinh tế và thương mại tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam, dẫn đến thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Báo cáo quốc gia về sự tham gia của Trung Quốc trong các dự án hợp tác khu vực tiểu vùng Mekong mở rộng của Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc năm 2011 cho thấy thương mại song phương giữa Trung Quốc và các nước có xu hướng tăng vượt bậc trong nhiều năm qua. Theo các thông số đó, các nước GMS chiếm tỷ trọng lớn nền thương mại Trung Quốc.

Sau khi tham gia vào hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng, Trung Quốc thực hiện một loạt các biện pháp nhằm tiến hành chương trình GMS. Để chỉ đạo quá trình hợp tác, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập Nhóm phối hợp nghiên cứu quốc gia về việc phát triển tiểu vùng sông Lancang-Mekong vào năm 1994. Bên cạnh việc triển khai các dự án đã đề ra, Trung Quốc còn chi 30 triệu USD cho việc xây dựng đường cao tốc Côn Minh-Bangkok chạy qua Lào, 5 triệu USD cho việc dự án cải tiến kênh hàng hải tại khu vực sông Mekong thượng. Tại hội nghị thượng đỉnh GMS lần thứ 3 năm 2008, Trung Quốc đã cam kết đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên của GMS, trong đó bao gồm việc Trung Quốc cam kết chi 20 triệu nhân dân tệ để tiến hành nghiên cứu tính khả thi của việc xây dựng một đường tàu nối phần phía đông Singapore với Côn Minh (Bat Deng - Loc Ninh). Theo Tân Hoa Xã, Trung Quốc luôn sẵn sàng cùng với các nhà cổ đông khảo sát tính khả thi của dự án, đầu tư tiền, hỗ trợ về mặt kĩ thuật, quản lý và trang thiết bị để con đường phía đông có thể được hoàn thành trong thời gian sớm. Tại Diễn đàn hàng lang kinh tế GMS lần đầu tiện được tổ chức tại Côn Minh (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) vào ngày 6/6/2008, đại diện từ 6 nước đã nhất trí đẩy nhanh việc chuyển đổi giao thông vận tải nhằm phát triển khu vực.

Trong suốt quá trình đầu tư và phát triển hạ tầng giao thông tại GMS, Trung Quốc rất chú trọng chiến lược “Tiến về phía tây nam” để phát triển Vân Nam và Quảng Tây. Năm 1992, Trung Quốc mở ra ba vùng kinh tế biên giới gồm Thụy Lệ (Ruili), Uyển Đinh (Wanding), và Hà Khẩu (Hekou). Đến tháng 5/2011, Quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố “Hỗ trợ Đẩy mạnh Xây dựng Vân Nam trở thành một tiền đồn quan trọng của khu vực Tây Nam”, với thành phố Côn Minh (Kunming - của tỉnh Vân Nam) trở thành một Vùng tập trung Quốc tế của khu vực Tây Nam Trung Quốc trong định hướng phát triển với các quốc gia GMS. Đến tháng 5 năm 2013, Vân Nam đã thành lập sáu vùng hợp tác kinh tế biên giới. Theo đó, kế hoạch Trung Quốc tiến hành xây dựng một Vòng kinh tế Trung tâm Vân Nam bằng cách kết nối bốn thành phố Côn Minh, Khúc Tĩnh (Qujing), Ngọc Khê (Yuxi), và Sở Hùng (Chuxiong), với Côn Minh làm trung tâm đang định hình.

Hầu hết các giao dịch thương mại giữa Trung Quốc với Lào, Myanmar tập trung tại Vân Nam. GDP của tỉnh Vân Nam tăng mạnh từ 33 tỷ USD năm 2000 lên 160 tỷ USD năm 2012, và tỉnh này quyết tâm đẩy con số này lên gấp đôi vào năm 2017 thông qua việc đẩy mạnh giao thương xuyên biên giới. Côn Minh trở thành điểm tập trung quan trọng và chính yếu trong các hoạt động kinh tế thu hút sự tham gia của các quốc gia trong khu vực như Lào, Myanmar, Việt Nam và nhiều nước khác. Chiến lược đầu tư hạ tầng của Trung Quốc đưa Vân Nam trờ thành vùng tập trung với sự giao thoa của hầu hết các tuyến đường bộ, đường sắt, đường viễn thông, lẫn đường năng lượng. Khu vực này được hỗ trợ phân mảng sản xuất từ các thành phố lân cận của Vân Nam và Quảng Tây. Từ đó tiến hành các chính sách sản xuất và thương mại với các quốc gia khu vực GMS.

Đi tìm những hàm ý chính sách

Lợi thế của quốc gia vùng trung tâm hạ tầng giao thông chính là kích thích thương mại và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tương lai, ngoài Thái Lan, nếu hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tại Lào, Myanmar, Campuchia dần hoàn thiện, các nước này có thể trở thành những điểm đầu tư hấp dẫn mới tại khu vực. Tuy nhiên, các quốc gia có lợi thế mới hình thành từ hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (như Lào, Campuchia, Myanmar) phải đối mặt chi phí vay vốn lớn, năng lực quản trị yếu kém có thể dẫn đến nhiều rủi ro về tài chính, tín dụng và ổn định chính trị.

Trong khi đó, với các nước không kết nối với cơ sở hạ tầng giao thông trong khu vực, rủi ro xảy ra là (i) suy giảm sức hấp dẫn, (ii) khiến cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông trở nên lãng phí; (iii) mất lợi thế trong thời gian cố định hàng chục năm. Tựu chung lại, khi địa-kinh tế dịch chuyển theo hướng các quốc gia nằm sâu trong lục địa có thể tiếp cận dễ dàng hơn với các cảng biển nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường bộ, đường sắt) thì có khả năng các mạng lưới sản xuất khu vực sẽ tăng tốc dịch chuyển về phía lẫn từ phía Trung Quốc; và một số nước thuộc GMS, vì thiếu nguồn lực xây dựng và duy trì hệ thống hạ tầng giao thông, nên chuyển ưu thế sang Trung Quốc.

Số liệu đầu tư hạ tầng giao thông của 5 quốc gia ASEAN thuộc khối GMS cho thấy Lào, Myanmar sẽ dần cải thiện được chất lượng cơ sở hạ tầng; Thái Lan sẽ có cơ sở hạ tầng tối ưu hơn nếu các kế hoạch đầu tư của Trung Quốc được triển khai trong tương lai. Điều này tạo ra một lợi thế địa-kinh tế mới cho các nước này. Đồng thời, các vùng tập trung quốc tế về cơ sở hạ tầng chạy qua Lào, Thái Lan còn được coi là một phương án khả thi đối với Trung Quốc nếu kết nối từ Trung Quốc qua Việt Nam để đến ASEAN bị trì hoãn. Hơn thế nữa, xu hướng đầu tư hạ tầng giao thông đến năm 2020 tại GMS, ngoài Thái Lan, Lào, thì nhân tố Campuchia và Myanmar cũng sẽ trở thành một vùng tập trung quốc tế tiềm năng trong các chương trình đầu tư của Trung Quốc (thông qua tỉnh Vân Nam, Quảng Tây) lẫn của nội khối GMS với việc phát triển tương đối đồng đều các hành lang giao thông.

Khả năng, khi hạ tầng giao thông được định hình có thể thúc đẩy sự phát triển của Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia nhưng có thể làm giảm lợi thế của Việt Nam nếu không kết nối được với hệ thống hạ tầng giao thông của khu vực (kết nối hướng Đông - Tây). Đó là cảnh báo về khả năng về một kết nối lệch nếu không có những điều chỉnh thích hợp trong bức tranh toàn cảnh, được ví von qua lý thuyết “đòn bẩy cơ sở hạ tầng” từ các kết nối của Trung Quốc. Trong trường hợp nghiên cứu GMS, cảnh báo này bắt đầu thể hiện qua các chỉ số có thể lượng hóa. Trong bối cảnh Trung Quốc đang đẩy mạnh dự án “một vành đai, một con đường” và bắt đầu kêu gọi sự tham gia của các nước Đông Nam Á một cách mạnh mẽ, các chỉ số này cần được tiếp tục nghiên cứu và thảo luận rộng rãi và hệ thống trong giới khoa học và hoạch định chính sách. 

Đỗ Văn Thiện, công tác tại Báo Pháp luật TP.HCM và là nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM. Bài viết là một phần trong dự án nghiên cứu “Đòn bẩy cơ sở hạ tầng từ các kết nối của Trung Quốc” được thực hiện bởi SCIS cùng hợp tác với Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, ĐHQGHN.


[1] Khu vực tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Sub-region, gọi tắt là GMS) bao gồm lãnh thổ của sáu quốc gia (Tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), Myanamar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam).

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

Lập luận pháp lý mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu dựa trên: Một là, yêu sách “vùng nước lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc; Hai là, cho rằng khu vực này thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được xác định từ phần lãnh thổ Trung Quốc có chủ quyền; Ba là, đáng chú ý Trung Quốc cũng đòi hỏi yêu sách chủ quyền thông qua việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Mỹ theo đuổi chiến lược Biển Đông trên 5 trụ cột chính: (i) luật pháp quốc tế,  (ii) kiềm chế, ngăn chặn, (iii) khuyến khích, (iv) cam kết ngoại giao và (v) sử dụng ASEAN. Bài viết đi sâu phân tích và luận giải một cách có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông qua hai đời tổng thống, Barrack Obama and Donald Trump, khi Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Indonesia coi trọng biển, lấy biển làm nền tảng trung tâm cho chính sách phát triển quốc gia. Indonesia sở hữu nhiều điệu kiện tự nhiên thuận lợi để vươn  ra biển, song để thành công, Indonesia cần chú ý hơn đến thành tố đối ngoại và xử lý hài hòa các thách thức Biển Đông.

Đọc tiếp...

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Quyết định giở bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cần được phân tích trên một góc nhìn đa chiều hơn. Đây không chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng xét về góc độ chính trị, hay chỉ là một biểu tượng ngoại giao hình thức. Ở một mức độ nào đó, quyết định này mang cả ý nghĩa về quốc phòng và quá trình định vị các đối tác chiến lược của Việt Nam sắp tới.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 15409 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin