23 - 8 - 2017 | 20:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Email In PDF.

Có 2 nhóm thông tin chính được truyền thông cũng như các học giả quốc tế dùng làm căn cứ để diễn giải cách hành xử “an toàn” của Malaysia. Bài viết thảo luận về tính chính xác của hai nhóm ý kiến này nhằm làm rõ bối cảnh và tính chất của các nhóm thông tin. 

 

 

Vào tháng 03/2016, hơn 100 tàu cá Trung Quốc bị Cơ quan An ninh quốc gia Malaysia phát hiện đang đánh bắt trái phép ngoài khơi bãi cạn Luconia (nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia). Ngay lập tức, chính phủ Malaysia đã triệu tập đại sứ Trung Quốc tại Malaysia đến để phản đối, đồng thời tăng cường lực lượng tuần tra từ Cơ quan Chấp pháp biển (MMEA) và Hải quân hoàng gia Malaysia (RMN) đến vùng biển trên. Những phản ứng gay gắt và gần như tức thời của chính phủ Malaysia trong sự kiện này được dư luận quốc tế và khu vực nhìn nhận như một bước chuyển biến “đột ngột” từ nhân nhượng sang cứng rắn của Malaysia trước những vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Đông.

Tuy nhiên, quan điểm của giới chức Malaysia khẳng định nước này chưa bao giờ nhân nhượng trước các hoạt động khai thác tài nguyên, đánh bắt thủy sản trái phép từ bên ngoài. Đô đốc Ahmad Puzi, người đứng đầu Cơ quan Chấp pháp biển Malaysia khẳng định có hơn 826 tàu cá nước ngoài đã bị bắt giữ vì các hoạt động khai thác trái phép trong thời gian qua, và trường hợp lần này sẽ không phải ngoại lệ. Điều này đặt ra câu hỏi: lập trường của Malaysia trên Biển Đông thực sự là như thế  nào?

Nhiều quan điểm cho rằng Malaysia tuy có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông (quần đảo Trường Sa) nhưng luôn theo đuổi “ngoại giao an toàn”, thậm chí bỏ qua các động thái lấn lướt của Trung Quốc. Có 2 nhóm thông tin chính được truyền thông cũng như các học giả quốc tế dùng làm căn cứ để diễn giải cách hành xử “an toàn” của Malaysia. Thứ nhất, nhóm thông tin cho rằng Trung Quốc liên tục tiến hành các hoạt động quân sự tại bãi cạn James (Trung Quốc gọi là bãi Tăng Mẫu) nhưng Malaysia không có phản ứng cụ thể. Thứ hai là nhóm thông tin khẳng định việc Malaysia nhường cho Trung Quốc một số ưu đãi về cảng biển có vị trí chiến lược trên Biển Đông, tạo điều kiện cho hải quân Trung Quốc tăng cường hiện diện tại vùng biển này.

Bài viết này thảo luận về tính chính xác của hai nhóm ý kiến trên nhằm làm rõ bối cảnh và tính chất của các nhóm thông tin này. Từ đó làm rõ khả năng gây nhiễu dư luận của các sự kiện được đề cập, cũng như sự thiếu chính xác khi sử dụng các thông tin trên để viện dẫn cho khả năng thỏa hiệp giữa Malaysia với Trung Quốc trên Biển Đông.

Sự kiện bãi ngầm James

Bãi ngầm James nằm cách bờ biển của Malaysia chỉ có 80km (nghĩa là nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế - EEZ của Malaysia), trong khi đó Trung Quốc vẫn tuyên bố đây là điểm cực nam trên đường “đứt khúc chín đoạn” dù bãi cạn này nằm cách đất liền về phía Trung Quốc đến 1800 km. Năm 1969, Malaysia và Indonesa đã đàm phán ký kết Hiệp định về thềm lục địa, trong đó Indonesia thừa nhận chủ quyền của Malaysia ở bãi cạn James.

Năm 2009, Việt Nam và Malaysia đã ký bản ghi nhớ và xây dựng Báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa (vượt quá 200 hải lý), cùng trình lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên Hợp Quốc. Trong bản báo cáo này, Việt Nam ghi nhận bãi ngầm James không thuộc phạm vi ranh giới ngoài thềm lục địa của mình, cũng như không nằm trong phạm vi tuyên bố chủ quyền của quần đảo Trường Sa. Như vậy, theo luật pháp quốc tế, bãi cạn James thuộc chủ quyền của Malaysia, và chỉ còn Trung Quốc là quốc gia còn lại tuyên bố đơn phương chủ quyền với bãi cạn này dựa trên đường đứt khúc chín đoạn từ năm 2009.

Dựa trên tuyên bố phi lý về chủ quyền, Trung Quốc lần đầu tiên thông báo tiến hành tập trận hải quân tại bãi cạn James (Trung Quốc gọi là bãi Tăng Mẫu - Zengmu Reef) vào tháng 03/2013 với 4 tàu hải quân. Đến tháng 01/2014, truyền thông Trung Quốc lại tường thuật sự kiện hải quân Trung Quốc tiến hành tuần tra bãi Tăng Mẫu - điểm cực nam của đường lưỡi bò - với 3 tàu hải quân. Tuy nhiên, trên thực tế, theo các nguồn tin của truyền thông uy tín quốc tế và truyền thông Malaysia, không có bất kỳ cuộc tập trận cũng như tuần tra nào của hải quân Trung Quốc vào hai thời điểm trên tại bãi cạn James.

Sự kiện Trung Quốc cho 4 tàu hải quân tập trận ở bãi cạn James vào 26/03/2013 được cho là lần đầu tiên truyền thông chính thống của Trung Quốc đăng tin về hoạt động quân sự của hải quân tại “mốc lãnh thổ cực nam”. Phản ứng của Malaysia với sự kiện này được cho là rất thận trọng khi phải đến đầu tháng 04/2013, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Malaysia mới khẳng định: cả Hải quân Hoàng gia lẫn lực lượng Cảnh sát biển Malaysia đều không thấy dấu hiệu của các tàu hải quân Trung Quốc. Đặt trong bối cảnh cụ thể, đây là khoảng thời gian Malaysia tổ chức bầu cử toàn quốc nhằm xây dựng chính phủ mới. Khoảng thời gian này, Quốc hội được giải tán sau tuyên bố của Thủ tướng Malaysia Najib Razak ngày 03/04/2013 với sự chấp thuận của Quốc vương Malaysia, nhằm tạo điều kiện cho tổng tuyển cử và quá trình chuyển giao quyền lực. Do đó, sự chậm trễ trong các phản ứng của chính phủ Malaysia giai đoạn này với vấn đề xâm phạm bãi cạn James là có thể giải thích được.

Tuy nhiên, ngay sau khi ổn định chính phủ mới, Malaysia được xem là đã “đáp trả” Trung Quốc khi Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia vào tháng 10/2013 tuyên bố tiến hành thiết lập đơn vị cảnh sát biển và xây dựng căn cứ hải quân Bintulu thuộc bang Sarawak, trên bờ biển chỉ cách bãi cạn James 100km. Mặc dù lý do chính khi lập căn cứ được nhắc đến là để kiểm soát tốt hơn an ninh đối với lực lượng ly khai ở Philippines, nhưng khả năng kiểm soát vùng biển bao quanh bãi cạn James cũng gia tăng đáng kể. Có thể nói đây là cách xử lý tình huống khéo léo của chính phủ Malaysia.

Đối với thông tin 3 tàu Trung Quốc tuần tra tại bãi cạn James (bãi Tăng Mẫu) được đăng lần đầu trên trang Tân Hoa Xã (Xinhua News - cơ quan ngôn luận chính thức của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa), cả bản tiếng Anh và tiếng Trung vào ngày 26/01/2014. Các hãng truyền thông quốc tế và khu vực đều đăng lại tin nãy dẫn nguồn từ Tân Hoa Xã. Ngay sau đó, ngày 29/01/2014, Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Malaysia Abdul Aziz Jaafar đã bác bỏ thông tin trên, và khẳng định các tàu Trung Quốc thực tế đã tuần tra ở một vị trí rất xa so với vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.

Điều đáng ngạc nhiên là trước sự phủ nhận của phía Malaysia, truyền thông cũng như chính phủ Trung Quốc không hề có bất kỳ thông tin đính chính hoặc tái xác nhận sự hiện diện hạm đội của họ trên bãi cạn James - dù việc tái xác nhận là một trong những phản ứng truyền thống của Trung Quốc trước những dư luận bất lợi cho các hành động liên quan đến tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông. Các thông tin này cũng không bị xoá đi trên internet (như những thông tin đăng về phản ứng của Malaysia với cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc tại bãi cạn James năm 2013).

Sự im lặng từ phía Trung Quốc đối với phản ứng chính thức từ Malaysia cho thấy Malaysia không bị ràng buộc bởi bất kỳ vấn đề nào (kể cả việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 10/2013) với Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền. Đồng thời, Malaysia đã phản ứng ở mức độ phù hợp, và truyền thông Trung Quốc đơn phương đăng thông tin, thậm chí không có sự thừa nhận từ chính phủ nước này.

Sự kiện trên vì thế không thể dùng để viện dẫn về sự “nhân nhượng” của Malaysia với Trung Quốc trên Biển Đông. Những phản ứng gay gắt của chính phủ Malaysia với những xâm phạm của tàu chấp pháp và tàu cá Trung Quốc tại bãi cạn Luconia vào các năm 2015, 2016 cho thấy rõ chính phủ Malaysia không hề muốn có bất kỳ nhân nhượng gì về vấn đề chủ quyền với Trung Quốc.

Có không một cách đối xử đặc biệt với Trung Quốc?

Nhiều dẫn chứng được đưa ra cho thấy Malaysia cho phép Trung Quốc được hưởng những quyền lợi biển đặc biệt hơn. Ví dụ như việc Malaysia cho phép hải quân Trung Quốc sử dụng hải cảng của Malaysia ở gần quần đảo Trường Sa và ngay sau đó tiến hành tập trận song phương với Trung Quốc. Nhóm các thông tin này được nhiều bài viết sử dụng để chứng minh các hành động nhằm tạo điều kiện cho việc gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á nói chung và Biển Đông nói riêng.

Khi gộp chung cả hai thông tin này vào một nhóm để diễn giải, dễ tạo ngầm hiểu cho rằng Malaysia đang từng bước nhân nhượng với Trung Quốc. Vì cả hai lĩnh vực về cảng biển và tập trận song phương đều là các lĩnh vực mà Trung Quốc đang tìm kiếm đồng thuận từ nhiều quốc gia Đông Nam Á nói riêng và các quốc gia nằm trong Dự án Con đường tơ lụa trên biển (MSR) của Trung Quốc nói chung. Tuy nhiên, khi tách riêng từng thông tin và phân tích các nội hàm rõ ràng sẽ có một nhận định khác.

Việc chính phủ Malaysia cho phép các tàu hải quân Trung Quốc được “sử dụng” hải cảng Kota Kinabalu (11/2015) rõ ràng là một trong những thành công tiếp theo của chính phủ Trung Quốc trong việc tiếp cận các hải cảng trên tuyến vận tải dọc theo con đường tơ lụa trên biển (MSR). Trước đó, hải quân Trung Quốc đã có chuyến thăm hữu nghị cảng Kota Kinabalu lần đầu tiên vào tháng 08/2013. Đây là cách tiếp cận dựa trên việc đối chiếu với những hoạt động mở rộng hiện diện quân sự tại “chuỗi ngọc trai” - hệ thống các cảng biển quan trọng của các quốc gia nằm trên con đường hàng hải nối liền Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Trong tháng 11/2015, Trung Quốc cũng đạt được quyền sử dụng cảng Gwadar của Pakistan ở Nam Á và chính thức hiện diện quân sự tại cảng Djibouti ở Đông Phi. Đây đều là các cảng có vai trò trọng yếu trên tuyến hàng hải đi từ Á sang Âu, góp phần kiểm soát tuyến ra vào ở eo Hormuz và khu vực Sừng Châu Phi.

Tuy nhiên, xét về mức độ ảnh hưởng, thì quyết định của chính phủ Malaysia có tính chất khác với các thoả thuận của hai chính phủ Pakistan và Djibouti với Trung Quốc. Đầu tiên, cảng Kota Kinabalu không hề có sự góp vốn của Trung Quốc trong quá trình xây dựng và quản lý, trong khi cảng Gwadar và cảng Djibouti cũng như toàn bộ hệ thống cảng trên “chuỗi ngọc trai” đều có nguồn vốn lớn do Trung Quốc đổ vào theo chính sách “ngoại giao cảng biển”. Thứ hai, việc cho phép hải quân Trung Quốc “sử dụng” cảng Kota Kinabalu chỉ giới hạn ở việc dừng và tiếp nhiên liệu, chứ không đạt các quyền sử dụng cơ bản khác (như cập bến lâu dài, quản lý hay vận hành cảng) như quy chế đồng thuận ở các cảng Gwadar và Djibouti.

Thứ ba, như lời của Abdul Aziz Jaafar (lúc này là cựu Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Malaysia), cảng Kota Kinabalu vẫn mở cửa cho các tàu quân sự nước ngoài (như Mỹ và Pháp đã từng cập cảng) chứ không chỉ cho riêng Trung Quốc. Tàu Lassen của Mỹ (trước khi thực hiện chuyến tuần tra khu vực 12 hải lý quanh đá Subi ở quần đảo Trường Sa) đã cập cảng Kota Kinabalu vào tháng 11/2015. Cuối cùng, nằm trên thủ phủ của bang Sabah - khu vực trọng điểm về quốc phòng của Malaysia, cảng Kota Kinabalu được thiết kế chuyên về cảng  bốc dỡ container, và được bảo vệ, giám sát bởi cảng Sepanggar Bay Container Port (SBCP) do Hải quân Hoàng gia Malaysia đóng giữ. Quân cảng Bintulu được xây dựng ở phía bắc bang Sarawak (giáp bang Sabah về phía tây) cũng góp phần tăng cường kiểm soát an ninh ở khu vực Đông Malaysia nói chung. Hoạt động cập cảng của tất cả các tàu nước ngoài ở Kota Kinabalu đều nằm trong sự theo dõi chặt chẽ của quân đội Malaysia.

Như vậy, việc hải quân Trung Quốc được phép dừng và tiếp nhiên liệu tại cảng Kota Kinabalu không chứng minh được bất kỳ chính sách nhân nhượng nào từ chính phủ Malaysia.  

 

“Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc trên con đường hàng hải quốc tế. Nguồn: The Economist.com

Đối với cuộc tập trận song phương gần đây giữa Malaysia và Trung Quốc tại eo biển Malacca (tháng 09/2015), trang thông tin của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã viện dẫn các bình luận cho rằng sự kiện này đại diện cho việc Malaysia xem quan hệ với Trung Quốc quan trọng hơn các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông hiện nay, thậm chí đã “lôi kéo thành công quân đội Malaysia về phía Trung Quốc”. Sự kiện này đúng là cuộc tập trận chung đầu tiên giữa Malaysia và Trung Quốc trên eo Malacca - nút thắt trọng yếu trên tuyến đường hàng hải quốc tế từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, và được truyền thông Trung Quốc miêu tả là cuộc tập trận lớn nhất giữa Trung Quốc với một quốc gia trong khối ASEAN.

Nhưng ngay sau đó, vào tháng 11/2015, quân đội Malaysia tiếp tục tham gia cuộc tập trận chống khủng bố Malus APHEX 15 cùng với lực lượng Thuỷ quân Lục chiến Mỹ (USMC) ngay tại bờ biển bang Sabah của Malaysia. Cả hai hoạt động diễn tập quân sự này đều nhằm vào các mục tiêu an ninh phi truyền thống, hướng đến tăng cường quan hệ quốc phòng song phương giữa Malaysia với Trung Quốc và Mỹ, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh trên tuyến hàng hải chung. Các hoạt động ngoại giao quốc phòng của Malaysia thể hiện rõ tính chất cân bằng trong quan hệ với các cường quốc.

Ngoài Trung Quốc và Mỹ, Malaysia cũng đã từng tiến hành tập trận quân sự song phương với nước láng giềng Indonesia, Ấn Độ; và tập trận đa phương với khối FPDA (Five Powers Defence Arrangements) gồm Singapore, New Zealand, Úc, Anh;  và khối ASEAN. Cũng trong tháng 11/2015, Thủ tướng Malaysia và Thủ tướng Ấn Độ đã gặp gỡ bên lề Hội nghị Thượng Đỉnh Đông Á (EAS) để ký các Bản ghi nhớ (MoUs) về việc tăng cường hợp tác quốc phòng song phương. Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishammuddin cũng nhân Hội nghị EAS này để tiến hành gặp bên lề với Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản G. Nakatani. Do đó, Trung Quốc chỉ là một trong những đối tác quốc phòng quan trọng của Malaysia, chứ không phải duy nhất hay quan trọng nhất.

Cần lưu ý là trong giai đoạn 2015 - 2016, Trung Quốc tiến hành hoạt động tập trận với một loạt các quốc gia Đông Nam Á như: Singapore (05/2015), Indonesia (10/2015) (nhưng bị Indonesia từ chối), Thái Lan (11/2015), Cambodia (02/2016), Brunei (05/2016).. Do đó, đây là giai đoạn Trung Quốc đang tăng cường các hoạt động ngoại giao quốc phòng song phương để gia tăng ảnh hưởng với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung. Phản ứng của chính phủ Malaysia đồng ý tiến hành tập trận song phương với Trung Quốc cũng là phản ứng chung của phần lớn các quốc gia ASEAN. Động thái này phù hợp với nguyên tắc cân bằng quan hệ giữa các cường quốc, khi ngay sau đó Malaysia cũng như các nước Đông Nam Á còn lại đều có hoạt động thắt chặt quan hệ quốc phòng với các cường quốc khác trong và ngoài khu vực.

 Ngoại giao an toàn” không phải lựa chọn của Malaysia

Sau khi đã bác bỏ hai nhóm thông tin về những sự kiện được viện dẫn phổ biến cho rằng Malaysia đang nhân nhượng Trung Quốc, có thể nhận thấy, lập trường đối ngoại của Malaysia vẫn giữ quan điểm cân bằng quan hệ giữa các cường quốc. Do ảnh hưởng từ các nhóm thông tin trênđặc biệt trong bối cảnh chính phủ Malaysia vừa trải qua giai đoạn tổng tuyển cử (2013) và khủng hoảng hàng không sau hai sự kiện MH370 và MH17 (2014), nên dư luận dễ ngả theo quan niệm cho rằng Malaysia “phải nhân nhượng” Trung Quốc trên nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề Biển Đông.

Ngay cả với các nhóm thông tin cho rằng do vừa nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (10/2013) và quan hệ kinh tế phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc dẫn đến sự nhân nhượng của chính phủ Malaysia, cũng không chính xác. Vì trên thực tế, từ năm 2003 - 2012, Malaysia chỉ nhận được 3% tổng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Do đó, không chỉ riêng Malaysia, Trung Quốc còn là đối tác thương mại hàng đầu với các quốc gia Đông Nam Á.

Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào các nước Đông Nam Á (2003 - 2012). Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm quản lý dữ liệu CEIC

Sự xuất hiện của các thông tin không chính xác, và những diễn giải từ các học giả có quan điểm chia rẽ lập trường các nước trong khu vực Đông Nam Á, được viện dẫn trên truyền thông Trung Quốc, là một trong ba bộ phận quan trọng của chiến lược “tam chủng chiến pháp” nhằm định hướng mặt trận thông tin theo cách tiếp cận của chính phủ Trung Quốc.

Malaysia cũng như nhiều quốc gia khác đều đang tăng cường tính địa chính trị trong chính sách đối ngoại: tập trung hội nhập khu vực, đa dạng hoá quan hệ với cường quốc. Trong năm 2015, khi đang đảm nhiệm chủ tịch Hiệp hội ASEAN, Malaysia lần lượt nâng cấp và củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản (05/2015), Úc (11/2015) và Ấn Độ (11/2015).

Các phản ứng của Malaysia với Trung Quốc tuỳ thuộc vào những diễn biến trên thực địa. Đối với những thông tin gây nhiễu, chính phủ Malaysia chính thức xác nhận là không tồn tại, nhưng vẫn có những bước chuẩn bị nhằm củng cố khả năng đảm bảo an ninh và giám sát khu vực như đã phân tích. Đối với những thông tin được xác thực như hành động xâm phạm của tàu cá và lực lượng hải cảnh của Trung Quốc ở bãi cạn Luconia từ giữa năm 2015, Malaysia đã phản ứng mạnh và tăng dần trên tất cả các kênh về ngoại giao, cũng như hoàn thiện những bước chuẩn bị về quốc phòng. Có thể thấy Malaysia đang theo đuổi một chính sách nhất quán và nghiêm túc về các vấn đề chủ quyền, và lựa chọn các phản ứng linh hoạt tùy theo mức độ các diễn biến trên thực địa.

ThS. Lục Minh Tuấn hiện là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp.HCM.

Bài viết thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Lệnh bỏ cấm vận vũ khí sát thương: Định hình tương lai hợp tác quân sự Việt-Mỹ

Dư địa hợp tác quân sự giữa hai quốc gia Việt Nam-Mỹ đang dần dần nới rộng ra với tương thích về tầm nhìn và hội tụ về tương đồng lợi ích chiến lược. Thảo luận về hệ quả đa chiều của quyết định định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Mỹ là một dịp để tổng quan lại nhu cầu hợp tác, cũng như xem xét khả năng và giới hạn của cả hai bên.

Đọc tiếp...

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí: cơ hội cho đa dạng hoá cơ cấu vũ khí khí tài?

Quyết định giở bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cần được phân tích trên một góc nhìn đa chiều hơn. Đây không chỉ hoàn toàn mang tính biểu tượng xét về góc độ chính trị, hay chỉ là một biểu tượng ngoại giao hình thức. Ở một mức độ nào đó, quyết định này mang cả ý nghĩa về quốc phòng và quá trình định vị các đối tác chiến lược của Việt Nam sắp tới.

Đọc tiếp...

Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Xóa đi những huyền thoại: Nhìn nhận lại lập trường của Malaysia trên Biển Đông

Có 2 nhóm thông tin chính được truyền thông cũng như các học giả quốc tế dùng làm căn cứ để diễn giải cách hành xử “an toàn” của Malaysia. Bài viết thảo luận về tính chính xác của hai nhóm ý kiến này nhằm làm rõ bối cảnh và tính chất của các nhóm thông tin. 

Đọc tiếp...

Đài Loan: Nước cờ cuối trong ván cờ giữa Trung Quốc và Philippines tại La Hay

Đài Loan: Nước cờ cuối trong ván cờ giữa Trung Quốc và Philippines tại La Hay

Với những lập luận về chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa và quy chế pháp lý của đảo Ba Bình, Đài Loan hy vọng tiếp thêm sức mạnh cho Trung Quốc và giảm bớt những nội dung bất lợi trong vụ kiện với Philippines.

Đọc tiếp...

Tại sao Philippines vững tin vào vụ kiện ở Biển Đông?

Tại sao Philippines vững tin vào vụ kiện ở Biển Đông?

Những nỗ lực của Philippines vận động cộng đồng quốc tế và kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết của PCA cho thấy Philippines khá vững tin về phán quyết cuối cùng của tòa. Điều gì khiến Philippines tự tin như vậy?

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 12993 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin