16 - 8 - 2018 | 5:51
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Email In PDF.

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

 

Trong tháng 01/2017, Quân đội Trung Quốc (PLA) đã bổ nhiệm Tư lệnh Hạm đội Hoa Bắc Viên Dự Bách làm Tư lệnh Khu vực Tác chiến phương Nam, đặt mục tiêu ưu tiên xử lý vấn đề an ninh tại Biển Đông thành một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của khu vực tác chiến này. Trung Quốc cũng đã bồi lấp đảo, xây dựng cơ sở quân sự tại cả Hoàng Sa và Trường Sa để tăng cường sức mạnh, khả năng khống chế, kiểm soát tình hình. Những bước đi này không chỉ tạo ra quan ngại cho các nước láng giềng ASEAN, mà còn gây ra hành động phản ứng của Mỹ, bằng việc tiến hành các hoạt động tuần tra tự do an ninh hàng hải, hàng không tại khu vực Trung Quốc xây dựng trái phép.

Tác giả Nan Li tại bài viết nghiên cứu nhan đề, “Bộ Chỉ huy Tác chiến phương Nam và chiến lược hàng hải của Trung Quốc” đã cho rằng, Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.[1]

Qúa trình chuyển đổi tư duy học thuyết, các bước triển khai chiến lược cụ thể của Trung Quốc trong thời gian qua như sau:

Cải tổ quân đội, chú trọng an ninh biển

Trong khoảng giữa thập niên 1960-1980, nhiệm vụ chủ yếu của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) là đảm bảo phòng thủ chiến lược trên đất liền và vùng ven biển nhằm ngăn chặn khả năng tấn công của Liên Xô từ hướng Bắc. Kể từ năm 1985, quan hệ Trung-Xô được cải thiện, sức ép an ninh trên lục địa với Trung Quốc cũng giảm đi. Trước bối cảnh tình hình, Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã yêu cầu PLA tiến hành điều chỉnh chiến lược quân sự, tập trung cho tình huống “xung đột cục bộ” nhằm thích ứng trước các diễn biến mới của thế giới và khu vực.[2]

Thực hiện chỉ đạo trên, Quân đội Trung Quốc đã tiến hành chuyển đổi từ chiến thuật “phòng ngự gần bờ” sang “phòng thủ tích cực biển gần”. Trong đó, PLA tập trung ưu tiên phát triển các phương án “tác chiến chiến lược”, nhằm đảm bảo khả năng tiến hành các hoạt động một cách độc lập, hiệu quả trên toàn bộ vùng không gian biển gần, được xác định gồm Biển Đông, Hoa Đông, và Hoàng Hải.

Bước sang những năm đầu thập niên 2000, Quân đội Trung Quốc triển khai tích hợp khái niệm “bảo vệ biển xa” vào chiến lược “phòng thủ tích cực biển gần”. Do đó, Hải quân Nhân dân Trung Quốc (PLAN) là lực lượng được giao nhiệm vụ đảm bảo cả các lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài. Trong đó bao gồm, các lợi ích về an ninh năng lượng và tài nguyên, các tuyến đường biển chiến lược, đầu tư của và pháp nhân Trung Quốc ở nước ngoài.

Sau quá trình chuyển đổi nêu trên, Trung Quốc tiếp tục có đợt cải cách, điều chỉnh cơ cấu quân đội vào cuối năm 2015. Mục tiêu của bước đi mới này là nhằm giảm quy mô của lực lượng lục quân, trong khi mở rộng hoạt động, khả năng đảm bảo an ninh của hải quân, không quân trên các vùng biển gần, cũng như vùng biển có lợi ích liên quan.

Theo đó, Quân đội Trung Quốc đã được điều chỉnh rút từ bảy quân khu xuống còn năm Bộ chỉ huy, đồng thời bổ sung biên chế chỉ huy từ các quân, binh chủng về nắm các Khu vực tác chiến mới thành lập. PLA cũng triển khai phát triển khái niệm “Hệ thống tác chiến dựa trên hệ thống nền tảng thông tin” (Information system-based system of system operations). Mô hình này cho phép PLA có thể triển khai cùng lúc nhiều hoạt động trên các không gian, phạm vi khác nhau. Khi phối hợp với Hệ thống C4ISR (Kiểm soát, Cảnh báo, Chỉ huy, Tình báo, Do thám…), PLA sẽ có khả năng nắm bắt thông tin thực địa theo thời gian thực, tích hợp và đồng bộ hóa với hoạt động của nhiều lực lượng khác nhau nhằm  đảm bảo có khả năng phối hợp tác chiến linh hoạt.

Gắn an ninh Biển Đông với nhiệm vụ của Khu vực Tác chiến phương Nam

Từ việc Trung Quốc xác định Biển Đông sẽ là môi trường cạnh tranh quân sự chiến lược, cũng như để có thể “nắm quyền kiểm soát”, hoặc “ra điều kiện” khi xảy ra khủng hoảng hoặc chiến tranh, PLA đã coi việc “bảo vệ chủ quyền” tại Biển Đông là sứ mệnh quan trọng nhất của Khu vực Tác chiến phương Nam. Do đó, trong tháng 01/2017, Quân đội Trung Quốc đã cử Tư lệnh Hạm đội Hoa Bắc là Phó Đô đốc Viên Dự Bách chuyển sang nắm Khu vực Tác chiến phương Nam. Đây là trường hợp đầu tiên trong lịch sử PLA, một lãnh đạo hải quân được giao nắm quyền chỉ huy tại một khu vực gồm nhiều lực lượng tác chiến hỗn hợp.

Các bước điều chỉnh nêu trên với Quân đội Trung Quốc và Khu vực Tác chiến phương Nam cũng phản ánh sự thay đổi trong tư duy chiến lược quân sự của Bắc Kinh, đó là chuyển từ ưu tiên phòng thủ lục địa sang tập trung đảm bảo và phát triển an ninh hàng hải. Do đó, Khu vực Tác chiến phương Nam còn được PLA giao nhiều nhiệm vụ khác nhau có gắn với các lĩnh vực an ninh hàng hải ở Biển Đông.

Ngoài những vấn đề nêu trên, lí do Khu vực Tác chiến phương Nam do một Tư lệnh có nguồn gốc hải quân được lựa chọn để PLA thực hiện các mục tiêu chiến lược của Trung Quốc với Biển Đông còn bao gồm:

Khi so sánh tầm quan trọng của các vùng biển gần, rõ ràng Biển Đông có một vai trò đặc biệt với Đông Á nói chung và với Trung Quốc nói riêng. Do đó, việc đảm bảo an ninh trên tuyến hàng hải đi ngang Biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc trong thời bình. Chưa kể, điều này còn giúp Trung Quốc có thể “nắm quyền chủ động” trong thời điểm khủng hoảng hoặc có xảy ra chiến tranh.

Biển Đông cũng là vùng biển có độ sâu lý tưởng so với Hoàng Hải và Hoa Đông, trung bình có thể đạt tới 1,200 mét. Đây là điều kiện lí tưởng để Trung Quốc triển khai lực lượng tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chiến lược (SSBN) của PLA. Độ sâu này giúp các tàu ngầm hạt nhân của PLA tránh được hoạt động chống ngầm, đòn tấn công hạt nhân phủ đầu của đối phương so với các vũ khí chiến lược khác được bố trí trên mặt đất, từ đó gia tăng khả năng sống sót và đánh trả. Phạm vi bán kính rộng của Biển Đông cũng cho phép PLA bố trí các tàu nổi cỡ lớn, vì các nước láng giềng ven biển Đông Nam Á có khả năng tình báo, do thám, phong tỏa đường biển yếu hơn so với lực lượng phòng vệ Nhật Bản tại Hoa Đông.

Thời gian qua, Quân đội Trung Quốc đã triển khai một số lượng lớn tàu mặt nước, trong đó có tàu sân bay nhằm hướng tới việc sở hữu “hệ thống tác chiến trên biển”. Hệ thống này có sự phối hợp của tàu sân bay, các tàu khu trục tên lửa, tàu hộ vệ, và tàu ngầm tấn công hạt nhân. Mô hình tác chiến này giúp các lực lượng của hải quân PLA có thể hỗ trợ lẫn nhau, giảm thiểu rủi ro khi thực hiện các nhiệm vụ như tác chiến phòng không, tấn công trên biển, chiến tranh điện tử, chiến tranh mạng, chống ngầm, và cảnh báo sớm.

Như vậy, yếu tố bề rộng và chiều sâu đã là một trong các nhân tố chiến lược tiềm năng để Hải quân Trung Quốc có thể bố trí, triển khai một “hệ thống tác chiến trên biển” tại Biển Đông. Qua đó, từng bước hiện thực hóa tư duy chiến lược hàng hải mới của Trung Quốc và các mục tiêu đặt ra với Biển Đông.

Nhằm củng cố và triển khai thực hiện các mục tiêu chiến lược với Biển Đông, thời gian qua Trung Quốc đã trái phép nạo vét, bồi lấp và xây dựng các đảo nhân tạo, các sân bay, bãi đáp trực thăng, cảng biển, trạm rada, và thiết bị thông tin liên lạc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tiếp tục giữ chiến thuật “mập mờ yêu sách”. Điều này khiến Mỹ phản ứng, tiến hành các biện pháp đối phó như tuần tra tự do hàng hải và hàng không gần các thực thể do Trung Quốc kiểm soát trái phép.

Phản ứng trước hành động của Mỹ, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi từng tuyên bố hồi tháng 7/2016...chủ quyền và lợi ích tại Biển Đông...là ‘lợi ích cốt lõi’ của Trung Quốc, liên quan tới nền tảng nắm quyền của Đảng, ổn định và an ninh của đất nước, các lợi ích quốc gia cơ bản của Trung Quốc…Chúng tôi sẽ không bao giờ dừng việc xây dựng đang triển khai tại Trường Sa.[3]

Khoảng cách lớn từ đất liền tới đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc chiếm đóng trái phép, cộng với các bước đi kiềm chế, ngăn chặn của hải quân Mỹ khiến Bắc Kinh gặp khó khăn trong việc triển khai các mục tiêu và tham vọng hàng hải. Đây cũng là một trong các lí do khiến PLA quyết định bổ nhiệm một Tư lệnh Hải quân nắm Khu vực Tác chiến phương Nam nhằm đối phó với các thách thức hàng hải đang phát sinh.

Trở ngại với điều chỉnh của PLA

Quyết định của Quân đội Trung Quốc, bổ nhiệm một Tư lệnh Hạm đội Hải quân chuyển sang nắm một Khu vực Tác chiến có nhiều quân, binh chủng khác nhau là quyết định chưa có tiền lệ. Việc này có thể tạo ra phản ứng bất mãn bởi các sĩ quan không quân và lục quân dưới quyền Tư lệnh mới Viên Dục Bách tại Khu vực Tác chiến phương Nam. Ngoài ra, vấn đề có thể còn làm gia tăng cạnh tranh nội bộ, khiến quá trình phối hợp của các lực lượng khác nhau trong triển khai thực hiện nhiệm vụ do Bộ chỉ huy tại Khu vực Tác chiến này đề ra gặp nhiều khó khăn.

Trong khi đó, dù lực lượng Không quân PLA hiện đã có khả năng phối hợp triển khai các hoạt động tại khu vực Trường Sa, bãi cạn Scaborough bằng các máy bay ném bom H-6K, máy bay tiêm kích đa nhiệm Su-30, máy bay tiếp dầu trên không, các máy bay cảnh báo, trinh sát. Nhưng do Bộ chỉ huy Khu vực Tác chiến phương Nam của PLA đặt tại Quảng Tây, và trước đây chủ yếu nhằm đối phó với các tình huống trên đất liền. Do đó, khi tranh chấp biển tại các thực thể địa lý ở Biển Đông leo thang, PLA sẽ gặp khó khăn khi muốn triển khai lực lượng không quân trong đất liền tham gia vào các nhiệm vụ tác chiến hỗn hợp trên biển. Chưa kể khoảng cách phạm vi địa lý, môi trường tác chiến khác biệt cũng là các áp lực đối với lực lượng không quân PLA tại Khu vực Tác chiến phương Nam.

Hiện nay, nhằm khắc phục các hạn chế kể trên, cũng nhưu để có thể mở rộng hoạt động quân sự phục vụ cho các mục tiêu chiến lược lâu dài tại Biển Đông, Trung Quốc đã triển khai bồi lấp, xây dựng các đảo nhân tạo tại Trường Sa, nâng cấp hạ tầng nhiều công trình quân sự tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Các hoạt động do Trung Quốc triển khai đã kéo theo quan ngại, phản ứng của nhiều bên, và căng thẳng gia tăng cũng gây bất lợi cho Bắc Kinh trong việc duy trì môi trường hòa bình để phát triển kinh tế. Chưa kể, diễn biến tình hình cũng khiến giới lãnh đạo Trung Quốc gặp thách thức khi muốn tăng cường kiểm soát dân sự với chính sách đối ngoại, tránh tác động ảnh hưởng do nhãn quan hạn hẹp, hành động cứng rắn của giới tướng lĩnh quân sự PLA gây ra. Vì nếu không xử lý tốt, những nhân tố này cũng đồng thời khiến Bắc Kinh càng khó thực hiện được các mục tiêu đã đặt ra với chiến lược hàng hải mới của họ./.

Dương Linh, Nghiên cứu viên Học viện Ngoại giao. Bài viết phản ánh quan điểm cá nhân của các tác giả.

Bài viết thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Học giả Nan Li là Nghiên cứu viên cao cấp, khách mời của Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore. Bài viết “Bộ Chỉ huy Tác chiến phương Nam và chiến lược hàng hải của Trung Quốc” được đăng trên trang China Brief của Qũy Jamestown, ngày 09/6/2017.

[2] Nan Li, “The Evolution of China’s Naval Strategy and Capbilities: From ‘Near Coast and’ and ‘Near Seas’ to ‘Far Seas’”, Asian Security, Vol 5, No.2 (May 2009)

[3]Tân Hoa xã, ngày 18/7/2016. Truy cập tại: http://news.xinhuanet.com/english/2-016-07/18/c_135522556.html

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách của Ấn Độ về Biển Đông. Việt Nam và Ấn Độ đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

 

Vị trí địa chiến lược, chính trị, quân sự của Biển Đông ngày càng trở nên quan trọng đối với các nước lớn, được thể hiện trên các góc độ địa bàn ảnh hưởng, cơ hội hợp tác phát triển và công cụ kiềm chế chiến lược. Song, khu vực Biển Đông cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán chưa được giải quyết triệt để. Do đó, Biển Đông luôn là điểm nóng của khu vực và thế giới, dù căng thẳng ở các mức độ khác nhau tùy từng thời điểm.

Ấn Độ là một cường quốc đang trỗi dậy và ngày càng có ảnh hưởng lớn ở khu vực. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, các nhà khoa học, hoạch định chính sách đang quan tâm đến những động thái và chính sách và quan điểm của Ấn Độ đối với vấn đề Biển Đông. Câu hỏi đặt ra là Ấn Độ nhìn nhận Biển Đông ra sao, chính sách của Ấn Độ tác động như thế nào đến tình hình chính trị của khu vực và trên thế giới? Trong phạm vi bài viết này tác giả sẽ cố gắng trả lời cho câu hỏi đó, tập trung vào ba nội dung chính: (i) quan điểm của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông; (ii) Tầm quan trọng của Biển Đông trong chính sách Ấn Độ; và (iii) Chính sách hướng Đông của Ấn Độ. Để có câu trả lời thoả đáng, bài viết đã sử dụng cách tiếp cận duy vật biện chứng, phân tích và luận giải sự kiện trong bối cảnh tình hình chính trị khu vực và quốc tế và tính tiếp nối của lịch sử, đảm bảo trật tự thời gian, tính logic, khoa học và hệ thống. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các kiến thức khu vực học và quốc tế học để phân tích sâu quan điểm của Ấn Độ đối với vấn đề Biển Đông.

Biển Đông trong toan tính chiến lược của Ấn Độ

Biển Đông nằm ở giữa tuyến đường hàng hải trải dài từ Đông Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia trong và ngoài khu vực trong phát triển kinh tế và quốc phòng - an ninh. Tầm quan trọng của Biển Đông được thể hiện ở các góc độ kinh tế, chính trị và quân sự.

Về góc độ kinh tế: Biển Đông là một trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất thế giới. Giao thông ở khu vực Biển Đông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Địa Trung Hải. Hàng ngày, có khoảng 200 - 300 tàu từ 5.000 tấn trở lên qua lại, chưa kể đến các tàu dưới 5.000 tấn, chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới. Khu vực Biển Đông án ngữ các tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch của các nền kinh tế quan trọng ở khu vực và thế giới, chuyên chở 1/2 sản lượng dầu thô và các sản phẩm thương mại khác của toàn cầu.[1] Ngoài ra Biển Đông cũng sở hữu nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu hỏa và khí đốt. Đây cũng là một trong những nhân tố dẫn đến tình trạng tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở một số vùng biển đảo, đồng thời một số nước lớn muốn gây phạm vi ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông.

Về chính trị, quốc phòng và an ninh: Biển Đông là điểm nóng quan trọng của khu vực, nơi tập trung nhiều lớp mâu thuẫn cả về chính trị lẫn kinh tế, quốc phòng - an ninh. Thực tế cho thấy, Biển Đông đã diễn ra các tranh chấp về chủ quyền biển đảo quyết liệt, phức tạp nhất của thế giới và khu vực, những tranh chấp đó khó giải quyết do còn tồn tại những bất đồng, mâu thuẫn giữa các quốc gia hữu quan về chủ quyền và cách thức giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, vị trí của Biển Đông có liên quan đến nền kinh tế, quốc phòng của nhiều quốc gia, kể cả nước có chủ quyền và không có chủ quyền, cũng như các nước trong và ngoài khu vực.

Mặc dù không trực tiếp liên quan và không tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, nhưng Ấn Độ đang ngày càng được công nhận là một bên trong cán cân quyền lực ở vùng biển này.[2] Mặc dù Ấn Độ không phải là nước ở khu vực Biển Đông nên không có các bờ biển hay hải đảo, hoặc các căn cứ và những thứ tương tự ở khu vực, Ấn Độ lại là một cường quốc ngoài khu vực có các hoạt động và tác động đối với khu vực thông qua việc thường xuyên triển khai hải quân, các chuyến thăm và tập trận trong vùng biển này, thông qua quan hệ đối tác chiến lược quân sự được thiết lập và đang phát triển với nhiều quốc gia ven Biển Đông, thông qua việc tham gia thăm dò dầu mỏ trong vùng biển này, và thông qua các cuộc thảo luận ngoại giao ở nhiều diễn đàn khu vực với các nước ngoài khu vực khác về vấn đề Biển Đông[3]. Theo quan điểm này, lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông có một tầm vóc chiến lược rõ ràng.[4]

Các yếu tố liên kết Biển Đông với chiến lược của Ấn Độ gồm hai khái niệm căn bản: đầu tiên là khái niệm láng giềng mở rộng, và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Trong đó, khái niệm về láng giềng mở rộng xuất hiện lần đầu tiên trong kho từ vựng chính thức của Ấn Độ vào năm 2000, dùng để chỉ các vùng địa lý bên ngoài Nam Á, khu vực mà Ấn Độ nhận thấy có những lợi ích nước này cần đạt được, duy trì và bảo vệ. Khi liên kết Biển Đông với khái niệm láng giềng mở rộng của Ấn Độ vào năm 2004, Ngoại trưởng Ấn Độ lúc đó là Yashwant Sinha đã xác định rõ ràng rằng, đó là khu vực trải dài từ kênh đào Suez tới Biển Đông, bao gồm Tây Á, Vùng Vịnh, Trung Á, Đông Nam Á, Đông Á, châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương. Còn khi đề cập đến khuôn khổ khái niệm Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Biển Đông có liên quan trực tiếp với những tính toán chiến lược của Ấn Độ, do vùng biển này nằm ở giữa tuyến đường hàng hải trải dài từ Đông Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương. Theo quan điểm này, lợi ích chính của Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là ngăn chặn sự quyết đoán của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương nhằm duy trì tự do hàng hải. Chính mối liên hệ chiến lược với tranh chấp ở Biển Đông này đã mở đường cho việc tăng cường vai trò của Ấn Độ trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương.

Năm 2012, trong tuyên bố về khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương -  Thái Bình Dương[5], Thủ tướng Ấn Độ, Manmohan Singh đã nêu rõ: "Các thỏa thuận Ấn Độ - ASEAN đã bắt đầu với sự tập trung mạnh mẽ vào kinh tế, nhưng nội dung của nó cũng đang ngày càng mang tính chiến lược, và một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ổn định, an toàn và thịnh vượng là rất quan trọng đối với sự tiến bộ và thịnh vượng của chúng ta."[6] Do đó, theo hai khái niệm căn bản này, Biển Đông được xác định là một khu vực có lợi ích chiến lược đối với Ấn Độ, mặc dù nước này không trực tiếp liên quan đến tranh chấp chủ quyền và không tuyên bố chủ quyền đối với khu vực Biển Đông.

Lợi ích địa chính trị và địa kinh tế của Biển Đông đối với Ấn Độ thể hiện rõ qua sự can dự của Ấn Độ ở Biển Đông trên hai khía cạnh sau:

Thứ nhất, giống như các bên khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, lợi ích chiến lược căn bản của Ấn Độ ở Biển Đông là địa chính trị, trong đó có liên quan đến an ninh hàng hải. Theo quan điểm này, việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với các đảo và vùng lãnh thổ ở Biển Đông đã đe dọa trực tiếp đối với tự do hàng hải và hoạt động khai thác tài nguyên của các quốc gia có chủ quyền khác trong khu vực. Ngoài ra, các hành động của Trung Quốc trực tiếp thách thức nguyên trạng, ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định của khu vực. Do lợi ích địa chính trị của Ấn Độ liên quan tới vùng biển trải dài giữa Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, nên việc đi lại an toàn qua các vùng biển ở Biển Đông nằm giữa hai khu vực này trở thành lợi ích chiến lược quan trọng đối với Ấn Độ. Bởi vậy, sự can dự lớn hơn của Ấn Độ ở Biển Đông là cách thức ngăn chặn sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương.

Thứ hai, Biển Đông chiếm vị trí trung tâm trong lợi ích địa kinh tế của Ấn Độ, dựa trên các lợi ích chiến lược hai mặt của Ấn Độ: (i) Thương mại của Ấn Độ với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước Đông Á; (ii) Nguồn cung năng lượng cho Ấn Độ như dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ các mỏ nằm ở Biển Đông. Cả hai yếu tố này đóng vai trò chiến lược trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Có tới gần 92-95% hàng hóa thương mại của Ấn Độ đi qua Ấn Độ Dương, khoảng 55% đi qua eo biển Malacca. Hơn nữa, nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng cao, Ấn Độ đã đa dạng hóa chuỗi cung ứng năng lượng của nước này. 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Ấn Độ được vận chuyển bằng đường biển. Vì vậy, Biển Đông đã trở thành một phần không thể tách rời của vành đai an ninh của Ấn Độ, đóng vai trò quyết định đối với ngoại thương, năng lượng và lợi ích quốc gia.[7]

Vai trò của Biển Đông trong chính sách Hành động Hướng Đông

Dưới chính quyền mới của Thủ tướng Narendra Modi, Chính sách hướng Đông vốn có từ lâu của Ấn Độ với 10 nước thành viên ASEAN đã phát triển thành Chính sách Hành động Hướng Đông - AEP và mang tính chủ động hơn. Chính sách này được tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Myanmar tháng 5/2014.[8] Chính sách này vạch kế hoạch thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai cực tăng trưởng của một châu Á năng động. Trong khuôn khổ Hành động hướng Đông, quan hệ đa chiều giữa Ấn Độ với ASEAN đã được tiếp thêm sức mạnh và động lực lớn hơn. Điều này đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh có những thay đổi nhanh chóng về địa chính trị: sự nổi lên nhanh chóng và mạnh mẽ của Trung Quốc trên bàn cờ chính trị thế giới và việc Bắc Kinh tăng cường cạnh tranh với Mỹ và Nhật Bản, dẫn tới sự thay đổi lớn về cấu trúc chính trị ở châu Á - Thái Bình Dương. Chiến lược của Mỹ về tái cân bằng tại châu Á, Chiến lược Chuỗi kim cương an ninh dân chủ của Nhật Bản, và Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc, tất cả đều mang tham vọng chính trị và chiến lược lớn nhằm định hình cấu trúc khu vực theo cách riêng của họ. Trong bối cảnh đó, sự tham gia của Ấn Độ trong việc ổn định cấu trúc an ninh khu vực đóng vai trò then chốt.[9] Một trong những thay đổi chính trong chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ được phản ánh trong vấn đề Biển Đông. Nghĩa là, với yêu sách gây tranh cãi của Trung Quốc đối với phần lớn Biển Đông, Ấn Độ đã khẳng định rõ ràng lập trường nguyên tắc của mình về tự do hàng hải, an ninh hàng hải, và giải quyết nhanh chóng các tranh chấp theo quy định của luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phát triển một bộ quy tắc ứng xử, và giải quyết tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên các vùng biển đảo thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình.[10] Vì những lợi ích chiến lược này, việc bảo vệ an ninh hàng hải và bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông có tầm quan trọng lớn đối với Ấn Độ. Ổn định ở Biển Đông được đề cập trực tiếp trong chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ[11], Hội nghị cấp cao An ninh châu Á – hay còn gọi là Đối thoại Shangri-La lần thứ 17, với bài phát biểu dẫn đề của Thủ tướng Ấn Độ Narenda Modi về tầm nhìn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Lần đầu tiên phát biểu tại Diễn đàn này, Thủ tướng Ấn Độ thể hiện chủ trương nhất quán Hành động Hướng Đông và chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương mà quốc gia này đang theo đuổi. Trước các nhà hoạch định chính sách an ninh khu vực, đặc biệt là Bộ trưởng Quốc phòng các nước, Thủ tướng Narenda Modi đã đưa ra tầm nhìn của Ấn Độ về cấu trúc an ninh khu vực, theo đó thúc đẩy đối thoại để giải quyết các thách thức an ninh đang nổi lên. Cụ thể Thủ tướng Modi khẳng định rõ vai trò của Ấn Độ tại các diễn đàn quan trọng như Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Ấn Độ, Diễn đàn Đông Á, Diễn đàn khu vực ASEAN và Cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng. Việc mời Thủ tướng Ấn Độ phát biểu dẫn đề Đối thoại Shangri-La năm nay được cho là một lựa chọn mang tính chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia lớn thời gian qua liên tục nhấn mạnh đến tầm nhìn chiến lược Ấn Độ- Thái Bình Dương. Có thể nói kể từ khi lên nắm quyền, Thủ tướng Ấn Độ Narenda Modi đã có những bước đi tích cực nhằm gia tăng vai trò an ninh và chính trị của nước này tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương,  khi từng bước mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược thông qua chính sách Hành động hướng Đông.

Trong định hướng chung gia tăng sự can dự với các nước ở Đông Á và Đông Nam Á, các mục tiêu chiến lược của Ấn Độ là đóng vai trò cường quốc bên ngoài khu vực Đông Nam Á dựa trên mục tiêu kép: (i) tham vọng của Ấn Độ trở thành cường quốc nổi bật ở Đông Bắc Ấn Độ Dương, tập trung vào Vịnh Bengal và Biển Andaman, tại đây Ấn Độ đóng vai trò nhân tố phòng vệ chủ chốt nhằm chống các mối đe dọa tiềm tàng ở quần đảo Đông Nam Á; (ii) mục tiêu lớn hơn là nhằm đảm nhận vai trò chiến lược lớn hơn trong khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Lợi ích này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu cấp thiết nhằm cân bằng ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Đông Nam Á, cũng như mong muốn của Ấn Độ về mở rộng không gian chiến lược của nước này.[12] 

Ấn Độ cam kết tăng cường hợp tác bảo đảm an ninh và tự do hàng hải, cũng như sự an toàn của các tuyến giao thông đường biển đối với tự do thương mại, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả UNCLOS.[13] Về khía cạnh này, mối quan ngại lớn của Ấn Độ là Biển Đông - khu vực nằm ở cửa ngõ của Ấn Độ, do vậy, đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với hòa bình và ổn định của khu vực. Căn cứ vào mối quan ngại này, Ấn Độ có lợi ích an ninh hợp pháp đối với sự ổn định tại Biển Đông, bởi vì bất kỳ sự bất ổn nào trong khu vực này đều gây ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh quốc gia của Ấn Độ. Lợi ích quan trọng nhất là tự do lưu thông hàng hải qua Biển Đông vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động buôn bán và thương mại bằng đường biển, cũng như đối với việc đảm bảo an ninh cho nguồn cung năng lượng từ khu vực Sakhalin của Nga.[14] Lợi ích kinh tế của Ấn Độ ở Biển Đông liên quan tới quyền thăm dò các nguồn dầu khí trong khu vực này của Công ty ONGC Videsh (OVL) - Công ty dầu khí đa quốc gia của Ấn Độ. Do vậy, động thái cứng rắn ngày càng tăng của Trung Quốc buộc Ấn Độ phải duy trì quyền lợi và bảo vệ lợi ích của mình tại khu vực này.[15]

Đánh giá của Ấn Độ về Biển Đông trong bối cảnh hiện nay

Quyết định của Ấn Độ can dự vào một môi trường an ninh phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. Các tranh chấp đang diễn ra tại Biển Đông là một trong những xung đột khu vực lâu dài và phức tạp nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các tranh chấp liên quan đến Trung Quốc cùng với một số quốc gia trong khu vực và các vấn đề như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn và tiếp cận các nguồn tài nguyên quan trọng như năng lượng và thủy sản. Trong môi trường khó kiểm soát này, Ấn Độ đã và đang mở rộng tầm ảnh hưởng của mình thông qua việc thực hiện Chính sách hướng Đông của mình. Trung Quốc, quốc gia cố kiềm chế sự can dự gia tăng của New Delhi vào Biển Đông, đã không để tâm đến điều này.

Biển Đông nằm trong một khu vực có lợi ích chiến lược lớn với Ấn Độ. Về mặt địa lý, nối liền Ấn Độ Dương và biển Hoa Đông qua eo biển Malacca, là một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Đây là huyết mạch kinh tế quan trọng cho quốc gia Nam Á này. Có đến 97% tổng khối lượng thương mại quốc tế của Ấn Độ là đi đường biển, một nửa đi qua eo biển nói trên. Thương mại Ấn Độ-ASEAN hiện chỉ đạt 71 tỷ USD và đang giảm dần sau khi cán mốc 80 tỷ USD vào năm 2011-2012. Ngược lại, kim ngạch thương mại ASEAN-Trung Quốc hiện là 450 tỷ USD. Khả năng là mục tiêu thương mại 200 tỷ USD vào năm 2020 giữa Ấn Độ và ASEAN sẽ không thể đạt được. Mặc dù hơn 22% tổng FDI nước ngoài của Ấn Độ đổ vào ASEAN và 2.000 công ty Ấn Độ hiện có mặt tại các nước ASEAN, vị trí của Ấn Độ vẫn khá khiêm tốn nếu so sánh với Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 2016, Ấn Độ đã đầu tư 1 tỷ USD vào ASEAN so với mức 10 tỷ USD mà Trung Quốc đổ vào khu vực này. Chỉ có Singapore là một nhà đầu tư lớn tại Ấn Độ với mức khoảng 30 tỷ USD, chiếm hơn 98% tổng đầu tư của ASEAN. Mặc dù Ấn Độ và ASEAN đã ký một Thỏa thuận về Hàng hóa, Dịch vụ và Đầu tư, những mục tiêu đạt được vẫn rất khiêm tốn.[16] Về kinh tế, Ấn Độ có lợi ích về thương mại, năng lượng ở khu vực. Với bờ biển dài 7.500km, chuỗi đảo Andaman và Nicobar trải dài từ điểm cực nam cách Indonesia 90 hải lý và điểm cực bắc cách Myanmar dưới 10 hải lý là cửa ngõ trên biển về phía đông của Ấn Độ. Khoảng 77% giá trị thương mại và hơn 90% khối lượng thương mại của Ấn Độ được vận chuyển bằng đường biển, trong đó, 55% được vận chuyển qua Eo biển Malacca tới các thị trường ở Châu Á - Thái Bình Dương. Lợi ích về thương mại của Ấn Độ ở Biển Đông càng tăng khi Ấn Độ và ASEAN đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2015-2016.[17] Năng lượng là một yếu tố khác mà Ấn Độ quan tâm ở Biển Đông. Năm 2015, Ấn Độ trở thành nước tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ ba trên thế giới, với các chuyên gia trong ngành dự đoán mức tiêu thụ năng lượng của nước này sẽ tiếp tục tăng 4,2% mỗi năm, có 80% nhu cầu dầu mỏ của Ấn Độ là từ nhập khẩu nên nhiều khả năng sẽ cần phải đảm bảo các nguồn năng lượng mới khi nhu cầu trong nước tăng lên. Trữ lượng dầu khí tiềm năng ở Biển Đông đã thu hút được sự quan tâm của New Delhi. Trong năm 2013, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ước tính khu vực này có thể chứa tới 11 tỷ thùng dầu và 19.000 tỷ feet khối khí đốt dự trữ. Như vậy, Ấn Độ đã và đang liên tục tham gia các dự án phát triển năng lượng ngoài khơi ở Biển Đông kể từ đầu những năm 1990, đấu thầu các lô dầu khí mới và tiến hành thăm dò dầu mỏ trong khu vực này. 

Tầm quan trọng kinh tế của khu vực này đã chuyển thành lợi ích an ninh quốc gia đối với New Delhi. Với một nửa thương mại đường biển của mình đi qua eo biển Malacca, bất kỳ sự bất ổn nào ở Biển Đông sẽ tác động tiêu cực đến các tuyến đường vận chuyển và gây ảnh hưởng đến kinh tế Ấn Độ. Nếu có một sức mạnh tiềm ẩn khả năng thù địch đến kiểm soát khu vực, nó có thể đe dọa việc Ấn Độ tiếp cận tuyến đường biển sống còn này. Do đó, sự tham gia của New Delhi vào Biển Đông tập trung vào ba mục tiêu: (i) Đảm bảo hòa bình, ổn định trong khu vực, giữ cho các tuyến đường biển luôn rộng mở; (ii) Để duy trì quan hệ thân thiết với các cường quốc khu vực; (iii) Đảm bảo không có cường quốc nào khống chế toàn bộ khu vực này. Thông qua chính sách này, New Delhi đã theo đuổi các mục tiêu này bằng cách tìm kiếm tăng cường can dự với các quốc gia ASEAN. Bên cạnh tăng cường hợp tác kinh tế, hợp tác chiến lược đã được mở rộng qua các cuộc tập trận chung, các khoản tín dụng hào phóng, huấn luyện quân sự và bán vũ khí quân sự cho các nước trong khu vực. Hơn nữa, sự hiện diện mạnh mẽ các phương tiện, khí tài quân sự của Ấn Độ trong khu vực không chỉ để bảo vệ các tuyến đường biển này mà còn thể hiện vai trò cường quốc ở khu vực. 

Sự can dự này để đối phó với tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Mối quan hệ của Ấn Độ và Trung Quốc luôn khó khăn và mong manh. Cả hai bên đều bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp biên giới kéo dài, từng dẫn đến một cuộc chiến tranh vào năm 1962 và cho đến nay, vẫn là nguồn gốc căng thẳng đôi lúc dẫn đến những cuộc khủng hoảng. Điều này đã duy trì cảm giác nghi ngờ và không tin tưởng giữa hai nước. Như cuộc đối đầu ở Doklam trong năm 2017 cho thấy cuộc xung đột giữa hai bên vẫn là một viễn cảnh thực sự. Do đó, theo quan điểm của New Delhi, không thể để Biển Đông trở thành ao nhà của Trung QuốcViệt Nam cần tận dụng vai trò này để thúc đẩy quan hệ và kéo New Delhi can dự sâu hơn vào Biển Đông, nhất là tham gia vào các dự án năng lượng trong thềm lục địa của Việt Nam. Hiện diện hải quân và bày tỏ quan điểm về Biển Đông cần được tiếp tục nhưng chưa đủ vì hiện diện hải quân liên quan đến vấn đề an ninh và dễ bị Trung Quốc phản đối, trong khi bày tỏ quan điểm mà ít hành động thì Trung Quốc vẫn cứ lấn tới. Các dự án kinh tế vừa giúp đảm bảo thực thi pháp luật, vừa tăng cường sự hiện diện của Ấn Độ trên thực địa. Ngoài ra, đây còn là hành động thực tế giúp bảo vệ quyền chủ quyền hợp pháp của Việt Nam và thách thức đường chín đoạn phi lý của Trung Quốc.[18] Quan điểm về những tranh chấp lãnh thổ là vấn đề quan trọng đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã nhiều lần miêu tả Biển Đông là một lợi ích cốt lõi, sẵn sàng sử dụng vũ lực để bảo vệ các tuyên bố của mình. Do đó, quan điểm của Ấn Độ về vấn đề này là một sự mơ hồ có chủ ý - không thiên vị bất kỳ bên nào mà thay vào đó ủng hộ tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS. Về phán quyết của Tòa trọng tài liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc năm 2016, lập trường của Ấn Độ là không đứng về bên nào trong tranh chấp này nhưng kêu gọi tất cả các bên tôn trọng và duy trì phán quyết của tòa án dựa trên UNCLOS. 

Tuy nhiên, tình hình gần đây ở Biển Đông khiến New Delhi quan ngại. Trung Quốc, nước tuyên bố chủ quyền đối với 85% khu vực tranh chấp này, đã và đang xây dựng và quân sự hóa các cấu trúc mà nước này chiếm hữu. Từ năm 2013 đến năm 2016, Trung Quốc được cho là đã xây dựng 7 hòn đảo nhân tạo trên các bãi ngầm và dựng các cơ sở quân sự gồm các sân bay, hệ thống radar và các căn cứ tên lửa trên các đảo chiếm hữu được cải tạo trong khu vực. Hơn nữa, các tàu của Trung Quốc có những hành động hung hăng, quấy rối và đe dọa tàu của các quốc gia khác đi vào gần các đảo mà họ tuyên bố có chủ quyền.

Ngày 12/7/2016, Tòa án Trọng tài Thường trực Liên hợp quốc tại La Hay đã đưa ra phán quyết về vụ kiện mang tính lịch sử giữa Trung Quốc và Philippines liên quan vấn đề Biển Đông. Tòa án Trọng tài quốc tế đưa ra phán quyết có lợi cho Philippines khi bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông dựa trên tấm bản đồ đường chín đoạn, và khẳng định yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò không có cơ sở pháp lý, không phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982 và không có bằng chứng cho thấy trong lịch sử Trung Quốc đã thực hiện quyền kiểm soát duy nhất đối với vùng biển hoặc các nguồn tài nguyên thuộc vùng biển này, và các hành động của Trung Quốc tại vùng biển này đã vượt quá giới hạn về địa lý và nội dung của UNCLOS.[19]

Phản ứng trước phán quyết này, Ấn Độ đã ngay lập tức đưa ra một lập trường rõ ràng và không thiên vị đối với bất kỳ bên nào trong vụ kiện trên khi chính thức tuyên bố: Với tư cách một quốc gia thành viên UNCLOS, Ấn Độ kêu gọi tất cả các bên hết sức tôn trọng UNCLOS, công ước thiết lập trật tự pháp lý quốc tế tại các vùng biển và đại dương. Tuyên bố về Phán quyết của Tòa án Trọng tài về Biển Đông[20] do Bộ Ngoại giao Ấn Độ đưa ra ở New Delhi ngày 12/7/2016 nêu rõ: Ấn Độ ghi nhận Phán quyết của Tòa án Trọng tài được nêu trong Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao Ấn Độ cũng nhấn mạnh rằng: Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải, hàng không, và không cản trở thương mại, dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế như đã được nêu rõ trong UNCLOS. Ấn Độ tin rằng, các nước nên giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, đồng thời kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp hoặc leo thang các tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định[21].

Theo nội dung tuyên bố trên, quan điểm của Ấn Độ đối với phán quyết của Tòa án Trọng tài phù hợp với lập trường chính thức của New Delhi về vấn đề Biển Đông, vốn thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của Ấn Độ đối với tự do hàng hải tại các vùng biển quốc tế và đảm bảo tất cả các nước trong khu vực tuân thủ công ước quốc tế về luật biển liên quan tới vấn đề này. Mặc dù, lập trường của Ấn Độ đối với phán quyết này không phản ánh quan điểm của New Delhi đối với Trung Quốc, nhưng việc tuân thủ luật pháp quốc tế là trái ngược với cách hành xử của Bắc Kinh ở Biển Đông. Bởi vì, xét về góc độ luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, Trung Quốc thiếu cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh chủ quyền hợp pháp. Trung Quốc đã sử dụng yêu sách đường chín đoạn đã bị Toà trọng tài bác bỏ, rồi đến yêu chủ quyền sách tứ sa phi lý cũng bị nhiều nước phản đối. Xét về lợi ích chiến lược của Ấn Độ và theo UNCLOS, Biển Đông là một tuyến đường hàng hải chung, những căng thẳng đang gia tăng trong khu vực gây ra hậu quả tiêu cực đối với Ấn Độ.

Trong bối cảnh Biển Đông trở thành tâm điểm của sự đối đầu Mỹ -Trung ở Tây Thái Bình Dương, vùng biển này bắt đầu liên quan đến các vấn đề chiến lược lớn hơn, chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự tăng cường hiện diện của Mỹ tại đây. Theo đó, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc đòi hỏi các bên tranh chấp khác cần có các tính toán chiến lược nghiêm túc.[22] Tự do hàng hải ở Biển Đông đã trở thành mối quan ngại đối với Ấn Độ. Mặc dù không phải là bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp, với tư cách là cường quốc ngoài khu vực, vấn đề Biển Đông đã trở thành một yếu tố quan trọng trong những tính toán chiến lược và chương trình nghị sự an ninh của Ấn Độ.

Chuyển biến trong quan hệ Việt Nam và Ấn Độ

Mặc dù Ấn Độ là một nước nằm ngoài khu vực Biển Đông, song quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam liên quan trực tiếp tới Biển Đông. Năm 1988, Công ty dầu khí nhà nước ONGC của Ấn Độ đã bắt đầu dự án thăm dò dầu khí tại vùng thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông. Trong thời gian dài, Trung Quốc không đưa ra bất kỳ tuyên bố đáng kể nào liên quan tới dự án liên doanh này. Tuy nhiên, đầu những năm 2000, Trung Quốc đã phản đối vai trò của Ấn Độ trong liên doanh này. Ấn Độ đã phản ứng theo 2 cách: (i) khẳng định quyền của công ty quốc doanh của nước này trong việc thực hiện dự án như một phần lợi ích kinh tế hợp pháp của Ấn Độ; (ii) bán tàu tuần duyên cho Việt Nam nhằm tăng cường năng lực tuần tra ven biển của Việt Nam. Các tàu chiến của Ấn Độ nhiều lần cập cảng Việt Nam, Ấn Độ bảo vệ quyền của mình trong việc thực hiện các chuyến thăm như vậy. Ấn Độ sẽ sử dụng hải quân để bảo vệ các cơ sở dự án liên doanh trên trong trường hợp bị đe dọa.[23] Như vậy, việc ký với Việt Nam Thỏa thuận khung về hợp tác năm 2003 và hiệp định Đối tác Chiến lược ký năm 2007 giống như viên kim cương ở Biển Đông của Ấn Độ đã bắt đầu được tăng cường về mặt quân sự, trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng sức mạnh ở Biển Đông để kiểm soát khu vực.[24]

Sự tăng cường quan hệ giữa Ấn Độ và Việt Nam được phản ánh trong việc trao đổi các chuyến thăm của các quan chức cấp cao hai nước. Từ ngày 05-06/6/2016, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ đã dẫn đầu đoàn đại biểu công nghiệp quốc phòng cấp cao, gồm đại diện các công ty vũ khí lớn nhất của Ấn Độ thăm Việt Nam nhằm tăng cường quan hệ quân sự song phương. Năm 2015, Tổng thống Ấn Độ, Pranab Mukherjee, đã có chuyến thăm lịch sử tới Việt nam. Chuyến thăm của Bộ trưởng Ấn Độ, Parrikar, diễn ra nhân dịp hai nước kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.[25] Tương tự, vào tháng 10/2014, Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, đã có chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ, được đánh dấu bằng lễ ký Thỏa thuận Hợp tác giữa OVL và PetroVietnam về các dự án thăm dò dầu khí mới tại Việt Nam.[26]

Điều này cho thấy quyết tâm của Ấn Độ và Việt Nam nhằm tăng cường quan hệ hải quân và thiết lập sự hiện diện hàng hải bền vững vốn được duy trì trước đó, với việc tàu hải quân Ấn Độ được phép vào thăm quân cảng Nha Trang ở miền Nam Việt Nam theo lời mời của Việt Nam[27]. Do có nhiều quyền lợi ở Biển Đông, Ấn Độ và Việt Nam đang mở rộng quan hệ bao trùm tất cả các lĩnh vực hợp tác, làm sâu sắc thêm mối quan hệ chiến lược, phù hợp với chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ. OVL đã quyết định lần thứ 3 gia hạn giấy phép thăm dò tại Lô số 128, khu vực mà Trung Quốc cũng đòi chủ quyền, nhằm duy trì lợi ích chiến lược của Ấn Độ tại Biển Đông. Năm 2011, Bắc Kinh đã cảnh báo OVL rằng, các hoạt động thăm dò của công ty này ở bờ biển ngoài khơi Việt Nam là phi phápvi phạm chủ quyền Trung Quốc, song OVL vẫn tiếp tục hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng biển này. Việc duy trì chính sách này được coi là nỗ lực của New Delhi trong việc khẳng định sự hiện diện của Ấn Độ tại khu vực mà Trung Quốc thể hiện hành động gây hấn[28]. Ngoài ra, OVL tiếp tục sở hữu 45% cổ phần tại Lô số 6.1 ở bờ biển ngoài khơi Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam đã vượt mốc 8 tỷ USD trong tài khóa 2013 - 2014, và trên đà đạt mục tiêu 7 tỷ USD trong năm 2015, hiện 2 nước nhất trí đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên 15 tỷ USD vào năm 2020.

Một trong số các yếu tố chủ chốt nối kết Ấn Độ - Việt Nam liên quan tới vấn đề Biển Đông là quan hệ hợp tác quốc phòng, vốn đóng vai trò là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ đối tác chiến lược đang ngày càng được tăng cường. Phát biểu nhân chuyến thăm Ấn Độ năm 2014 của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Ấn Độ Modi khẳng định: "Quan hệ hợp tác quốc phòng của chúng tôi với Việt Nam là một trong số các yếu tố quan trọng nhất. Ấn Độ vẫn duy trì cam kết giúp Việt Nam hiện đại hóa các lực lượng an ninh và quốc phòng."[29] Trong chuyến thăm Ấn Độ hồi tháng 5/2015 của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh, hai bên đã ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2015-2020 và bản ghi nhớ về hợp tác giữa lực lượng bảo vệ bờ biển hai nước.

Ngoài ra, Ấn Độ gần đây cũng đã cung cấp cho Việt Nam gói tín dụng trị giá 100 triệu USD để mua tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam.[30] Trong thời gian diễn ra chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ, Parikkar[31], tháng 6/2016, Cảnh sát biển Việt Nam đã ký văn bản đặt mua của Công ty Larsen and Toubro của Ấn Độ một tàu tuần tra cao tốc[32], phục vụ cho việc tuần tra bảo đảm an ninh hàng hải[33] và ven biển.[34]

Với việc tăng cường quan hệ chiến lượctrong những chuyến thăm cấp cao của Ấn Độ,  đến Việt Nam đóng vai trò quan trọng, và được kỳ vọng sẽ tăng cường hơn nữa mối quan hệ chiến lược giữa hai nước. Trong đó, vấn đề quan trọng nhất sẽ là quyết định của Ấn Độ về việc bán tên lửa siêu thanh BrahMos, do liên doanh Ấn - Nga sản xuất, cho Việt Nam, qua đó sẽ đem lại cho Việt Nam lợi thế chiến lược và vượt trội so với Trung Quốc.[35]

Kết luận

Trong bối cảnh diễn ra những thay đổi chiến lược, vai trò chủ động của Ấn Độ ở Biển Đông không phải là một ngoại lệ. Biển Đông liên quan tới lợi ích quốc gia quan trọng của Ấn Độ trong chính sách hành động hướng Đông. Khung chính sách này hợp thức hóa những quan ngại ngày càng gia tăng cũng như hành động của Ấn Độ ở Biển Đông trong bối cảnh căng thẳng gia tăng. Theo đó, mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách của Ấn Độ về Biển Đông. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Do vậy, Biển Đông là vấn đề bao trùm lên chương trình chiến lược của Ấn Độ trong quan hệ với Việt Nam. Trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam và Ấn Độ đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Các nội dung này được đưa ra bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 31 và các Hội nghị Cấp cao liên quan tại Manila, Philippines. Chính sách nhất quán của Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ. Đồng thời, Ấn Độ coi Việt Nam là một trong những trụ cột của chính sách hướng Đông. Việt Nam và Ấn Độ đều thúc đẩy hợp tác quốc phòng, với việc Ấn Độ tăng cường chia sẻ công nghệ và cung cấp tín dụng quốc phòng cho Việt Nam. Đặc biệt, quan hệ đối tác chiến lược trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng được lãnh đạo hai nước rất coi trọng. Hai bên hiểu khá rõ về tiềm năng, thực lực và nhu cầu về an ninh, quốc phòng của nhau. Đây chính là cơ sở quan trọng để hai bên thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng trên cơ sở cùng có lợi. Hai nước cam kết củng cố hợp tác về cung ứng quốc phòng, các dự án chung, hợp tác đào tạo và trao đổi thông tin tình báo, nhất trí tăng cường hơn nữa các cuộc tiếp xúc và trao đổi đoàn giữa các tổ chức quốc phòng và an ninh hai nước, hợp tác về xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan của hai nước trong việc bảo đảm an ninh đường biển, bao gồm chống cướp biển, ngăn ngừa ô nhiễm, tìm kiếm và cứu hộ, củng cố hợp tác song phương trong việc đối phó với chủ nghĩa khủng bố một cách toàn diện và lâu dài, tăng cường hợp tác bảo đảm an ninh mạng./.

TS. Nguyễn Thanh Minh, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam

Bài viết thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Bộ Tư lệnh Hải quân, Cục Chính trị, Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía Nam (DK1), Hải Phòng, 2011, tr.11.

[2] David Scott (2015), Sự gia tăng cân bằng của Ấn Độ ở Biển Đông, Quan hệ quốc tế, ngày 26/7/2015, http://www.e-ir.info/2015/07/26/indias-incremental-balancing-in-the-south-china-sea/.

[3] David Scott (2013), "Vai trò của Ấn Độ ở Biển Đông: Trò chơi địa chính trị và địa kinh tế", Ấn Độ Review, Vol. 12, 2, tr. 51.

[4] David Scott (2013), Vai trò của Ấn Độ ở Biển Đông: Trò chơi địa chính trị và địa kinh tế, Ấn Độ Review, Vol. 12, 2, tr. 51.

[5] Kim Anh, Ấn Độ với Biển Đông: Lọi ích kép và chính sách Hành động phía Đông, xem tại: http://vietnamnet.vn/vn/chu-quyen-hoang-sa-truong-sa/an-do-voi-bien-dong-loi-ich-kep-va-chinh-sach-hanh-dong-phia-dong-420539.html. Truy cập ngày 12/6/2018.

[6] Đã được triển khai thực hiện.

[7] Chẳng hạn, ngay từ những năm 1980, Ấn Độ đã tiến hành các dự án khai thác năng lượng xa bờ ở Biển Đông với Việt Nam. Năm 1988, Tập đoàn ONGC Videsh Limited - OVL của nước này đã hợp tác thăm dò dầu khí với Việt Nam và sau đó tham gia 45% quyền lợi và nghĩa vụ thăm dò và khai thác dầu khí tại lô 06/1 cách Vũng Tàu 370 km về phía đông nam bờ biển Việt Nam. Vào đầu những năm 2000, Trung Quốc đã phản đối vai trò của Ấn Độ trong liên doanh này. Tuy nhiên, Ấn Độ đã khẳng định quyền của công ty quốc doanh của nước này trong việc thực hiện dự án như một phần lợi ích kinh tế hợp pháp của Ấn Độ.

[8] Indonesia, Malaysia, Myanmar, Brunei, Campuchia, Lào, Việt Nam, Philippines, Singapore và Thái Lan.

[9] Rahul Mishra, “Từ hướng Đông đến Hành động Phía Đông: Sự hướng Đông của Ấn Độ”, The ASAN Forum, 1/12/2014, http://www.theasanforum.org/from-look-east-to-act-east-transitions-in-indias-eastward-engagement/

[10] Ashok Sajjanhar, Chính sách Hành động Phía Đông của Ấn Độ và xa hơn nữa”, Gateway House, 12/5/2016, http://www.gatewayhouse.in/indias-act-east-policy-far-beyond/.

[11] Phạm Hà, Chính sách Hành động Hướng Đông của Án Độ qua Shangri-La 2018, xem tại: https://vov.vn/the-gioi/chinh-sach-hanh-dong-huong-dong-cua-an-do-qua-shangrila-2018-769373.vov. Truy cập ngày 12/86/2018.

[12] David Brewster, “Chiến lược quốc phòng Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ -ASEAN,” India Review, Vol. 12, no. 3, 2013, tr. 151.

[13] Tuyên bố tầm nhìn của Hội nghị Thượng đỉnh Ấn Độ - ASEAN, Association of Southeast Asian Nations, 21/12/2012.

[14] Dr. SubhashKapila, “Chính sách Hướng Đông, Hành động Phía Đông và Đông Nam Á: Động lực hiến lược chính trị,” South Asia Analysis Group, Paper No. 5603, 14/11/2013.

[15] Darshana M. Barua, Hợp tác hải quân Ấn Độ-ASEAN: Một chiến lược quan trọng, Observer Research Foundation, Analysis, 6/7/2013.

[16] Quan hệ ASEAN-Ấn Độ: Mãi là chiếc cốc vơi nửa? Xem tại: http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/6853-quan-he-an-do-asean. Truy cập ngày 12/6/2018.

[17] Phạm Duy Thực, Bước chuyển về nhận thức và hành động của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông, xem tại:   http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5216-buoc-chuyen-ve-nhan-thuc-va-hanh-dong-cua-an-do-trong-van-de-bien-dong. Truy cập ngày 26/6/2018.

[18] Phạm Duy Thực, Bước chuyển về nhận thức và hành động của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông.

[19] Tòa án Trọng tài Thường trực, PCA trường hợp 2013-19 trọng tài về vấn đề Biển Đông, 12/7/2016, xem tại: https://pca-cpa.org/wp-content/uploads/sites/175/2016/07/PH-CN-20160712-Award.pdf. Truy cập ngày 1/8/2016.

[20] Bộ Ngoại giao Ấn Độ, "Tuyên bố về phán quyết của tòa án trọng tài về Biển Đông Theo Phụ lục VII của UNCLOS", 12/7/2016, http://www.mea.gov.in/pressreleases.htm?dtl/27019/Statement+on+Award+of+Arbitral+Tribunal+on+South+China+Sea+Under+Annexure+VII+of+UNCLOS.

[21] Bộ Ngoại giao Ấn Độ, "Tuyên bố về phán quyết của tòa án trọng tài về Biển Đông Theo Phụ lục VII của UNCLOS", 12/7/2016.

[22] LeszekBuszynski, Biển Đông: Dầu, tuyên bố hàng hải và sự cạnh tranh chiến lược Hoa Kỳ - Trung Quốc, The Washington Quarterly, Vol. 35, 2, 2012, tr. 139-140.

[23]. Joseph ChinyongLiow, Hoa Kỳ và Ấn Độ có thể cùng nhau làm điều gì trên Biển Đông, Brookings, 10/6/2016.

[24]. David Scott, Sự gia tăng cân bằng của Ấn Độ ở Biển Đông, 2015.

[25] Rajaram Panda, Xu hướng đi lên của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sau chuyến thăm của ParikkaThe Pioneer, 19/6/2016.

[26]. Bộ Ngoại giao, Tuyên bố chung của chuyến thăm Thủ tướng Việt Nam đến Ấn Độ -October 27-28, 2014, Government of India, 28/102014.

[27] Tư lệnh Hải quân Việt Nam thăm Ấn Độ thúc đẩy quan hệ quốc phòng, Defence Now.

[28] Ấn Độ - Việt Nam thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược, The Economic Times, 17 September 2015.

[29] Bộ Ngoại giao, Họp báo về chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam đến Ấn Độ (October 28, 2014), Government of India, 28/10 2014.

[30] Bộ Quốc phòng, Tuyên bố chung về hợp tác quốc phòng Ấn Độ và Việt Nam, Press Information Bureau, Government of India, 26/5/2015.

[31] Gopal Suri,Việt Nam và Biển Đông, Vivekananda International Foundation, 13 June 2016.

[32]. Parrikar hội đàm với Chủ tịch nước, Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt NamThe Indian Express, 6/6/2016. 

[33]. DevirupaMitra, Modi đến thăm Việt Nam, đưa Chính sách Hành động phía Đông đến Biển ĐôngThe Wire, 31/7/2016.

[34]. David Scott,Sự gia tăng cân bằng của Ấn Độ ở Biển Đông, 2015.

[35] Harsh V. Pant, Chiến lược Ấn Độ mở đường ở Việt Nam, Livemint, 15/6/2016.

Đọc tiếp...

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các nước ASEAN: Thực trạng và triển vọng

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các nước ASEAN: Thực trạng và triển vọng

Hợp tác quốc tế ở Biển Đông giữa các quốc gia ASEAN trong bối cảnh hiện nay đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Trên tinh thần đó, bài viết sẽ góp phần làm sáng tỏ thực trạng hợp tác quốc tế trên biển trong một số lĩnh vực cụ thể hiện nay giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông và đưa ra những nhận định đánh giá về triển vọng trong thời gian tới.

Đọc tiếp...

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

“Tứ Sa”: Chiến thuật mới của Trung Quốc tại Biển Đông?

Lập luận pháp lý mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu dựa trên: Một là, yêu sách “vùng nước lãnh hải lịch sử” của Trung Quốc; Hai là, cho rằng khu vực này thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được xác định từ phần lãnh thổ Trung Quốc có chủ quyền; Ba là, đáng chú ý Trung Quốc cũng đòi hỏi yêu sách chủ quyền thông qua việc khẳng định “Tứ Sa” là một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông

Mỹ theo đuổi chiến lược Biển Đông trên 5 trụ cột chính: (i) luật pháp quốc tế,  (ii) kiềm chế, ngăn chặn, (iii) khuyến khích, (iv) cam kết ngoại giao và (v) sử dụng ASEAN. Bài viết đi sâu phân tích và luận giải một cách có hệ thống về chính sách của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông qua hai đời tổng thống, Barrack Obama and Donald Trump, khi Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Chính sách Biển của Indonesia: Thuận lợi và thách thức

Indonesia coi trọng biển, lấy biển làm nền tảng trung tâm cho chính sách phát triển quốc gia. Indonesia sở hữu nhiều điệu kiện tự nhiên thuận lợi để vươn  ra biển, song để thành công, Indonesia cần chú ý hơn đến thành tố đối ngoại và xử lý hài hòa các thách thức Biển Đông.

Đọc tiếp...

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Lá bài “tham vấn song phương” của Trung Quốc với Philippines

Căn cứ trên bản chất thực dụng của ngoại giao Trung Quốc, Bắc Kinh thực chất không coi hình thức “tham vấn song phương” với Philippines là “nền tảng cho các thảo luận tiếp theo” để tình hình Biển Đông “đi vào ổn định lâu dài” như tuyên bố.

Đọc tiếp...

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Ngoại giao nước nhỏ và Bài học cho Việt Nam

Tháng 7/2016 tại Singapore nổ ra một cuộc bút chiến bàn luận về chủ đề ứng xử của nước nhỏ trong quan hệ quốc tế giữa các nhà ngoại giao kỳ cựu của nước này. Cuộc tranh luận thu hút sự chú ý của dư luận bên trong và bên ngoài Singapore, đặc biệt là trong bối cảnh có những đánh giá về sự thay đổi quan điểm của Singapore trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bước chuyển mới trong chiến lược hàng hải của Trung Quốc

Bắc Kinh đang có bước chuyển trong chiến lược hàng hải, chuyển trọng tâm từ phòng thủ lục địa sang ưu tiên vấn đề an ninh biển, chú trọng phát triển các lợi ích hàng hải ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Chuyển động mới của Nhật Bản tại Biển Đông và hàm ý đối với chiến lược của Trung Quốc

Tuy Nhật Bản không phải là quốc gia liên quan trực tiếp nhưng Biển Đông có vai trò quan trọng trong tuyến hàng hải huyết mạch trên biển từ Trung Đông đến lãnh hải Nhật Bản. Do vậy, trong thời gian gần đây Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông và tạo ra những thách thức mới cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Vài suy nghĩ về giải pháp giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông

Thực tiễn đã chứng minh, nếu căng thẳng không được kiểm soát có thể dẫn đến xung đột vũ trang, dù ở cường độ thấp cũng làm cho khu vực rơi vào vòng xoáy mất ổn định. Bài viết tập trung đề cập đến biện pháp xây dựng lòng tin gữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông, thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế ở khu vực và thế giới.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ  2: Một số cơ chế hợp tác và dự báo tình hình sắp tới

Trong bối cảnh hiện nay, các chế hợp tác chống cướp biển, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm xuyên quốc gia và bảo đảm an ninh trên biển đóng vai trò quan trọng, góp phần làm giảm những vấn nạn nói trên.

Đọc tiếp...

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Tình hình an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI - Kỳ 1:Tình hình an ninh

Cũng giống như an ninh trên đất liền, an ninh biển bao gồm cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Theo khuôn khổ đó, bài viết tập trung phân tích, luận giải một số nội dung chủ yếu của an ninh phi truyền thống đang đe dọa an ninh khu vực Biển Đông trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia: Phần II: Sản xuất và Kết nối Đường bộ

Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng tại Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này. Điều này sẽ có những tác động như thế nào đối với khu vực và Việt Nam?

Đọc tiếp...

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Chiến lược địa-kinh tế của Trung Quốc tại Campuchia (Phần 1)

Trong hơn hai thập kỷ, Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Campuchia. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã tạo nên những thay đổi lớn về kinh tế Campuchia cũng như tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại quốc gia này.

Đọc tiếp...

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Phương thức mới của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông

Bằng việc triển khai kết hợp các phương thức khác nhau, Trung Quốc tìm cách cân bằng lợi ích với Mỹ, kiềm chế Nhật và Hàn Quốc, giữ ASEAN trong vòng ảnh hưởng, lôi kéo Nga can dự, đồng thời hạn chế tối đa tác động cộng hưởng từ nhiều điểm nóng, tiếp tục kiểm soát tranh chấp Biển Đông để tránh các hệ lụy bất lợi cho các mục tiêu chiến lược mà Trung Quốc đã đặt ra.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Điều chỉnh trong Chính sách Biển Đông của Chính quyền Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Từ là bên “tuyến đầu” đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines, dưới thời ông Duterte, đã thay đổi gần như đảo ngược hoàn toàn chính sách Biển Đông cũng như mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân? Tác động cửa sự thay đổi này đối với khu vực cũng như tranh chấp ở Biển Đông sẽ như thế nào?

Đọc tiếp...

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Con đường tơ lụa trên biển qua Đông Nam Á và Nam Á: Một hệ thống đang định hình

Bức tranh hệ thống tại hai khu vực quan trọng này một mặt sẽ giúp đưa ra các chỉ dấu để phân tích về chính sách cơ sở hạ tầng cảng biển của Trung Quốc, mặt khác sẽ tạo tiền đề để hình dung các thành tố cơ bản của con đường biển đang dần định hình tại Nam bán cầu.

Đọc tiếp...

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ: Vượt qua xung lực song phương

Chuyến thăm của Thủ tướng Naendra Modi tới Việt Nam đã đưa mối quan hệ hai nước đã được nâng cấp từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Bài viết này đề cập tới tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trong tương lai dựa trên nền tảng lịch sử cũng như những thế mạnh và vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau.

Đọc tiếp...

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Một vành đai, một con đường qua Myanmar - Các dự án tỷ đô trong thay đổi địa chiến lược khu vực

Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ trình bày về Con đường tơ lụa và triển vọng của nó tại Đông Nam Á, bắt đầu từ Myanmar. Đây là một điểm quan trọng, vì  quốc gia tiếp giáp với khu vực Nam Á, nơi đầu tư Trung Quốc  hiện diện ở các cảng biển, CSHT năng lượng, CSHT khai thác, đường ống dẫn, lẫn hành lang trên bộ đi qua 4 quốc gia.

Đọc tiếp...

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết của Toà Trọng tài cần được tôn trọng và thực thi

Phán quyết đã giúp đề cao tính thượng tôn pháp luật và tính tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, đề cao giá trị của công lý và hoà bình. Đây cũng là hy vọng, là mong muốn chung của các quốc gia trên thế giới yêu chuộng hoà bình và lẽ phải.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6970 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin